– 265 – 269 -: Người Thợ Mộc Họ Phùng (Phùng Mộc Tượng)

Nhấn Like Và Chia Sẻ Để Ủng Hộ Nếu Bạn Thấy Hay

Phủ quân Chu Hữu Đức sửa sang vương phủ cũ làm công thự. Lúc ấy vừa khởi công, có người thợ mộc là Phùng Minh Hoàn trực đêm ngủ lại. Tối vừa đi nằm, chợt thấy cửa sổ hé mở, trăng sáng vằng vặc, nhìn ra đầu tường thấy có một con trĩ đỏ đứng. Đang chăm chú nhìn con trĩ đã bay xuống đất. Giây lát có một cô gái cởi trần lộ nửa người tới nhìn vào, Phùng ngờ là bạn thợ có ai vụng trộm với nàng, yên lặng lắng nghe thì mọi người đều đã ngủ say, trong lòng rạo rực, thầm mong nàng tới lầm chỗ. Giây lát cô gái quả vượt cửa sổ vào tới nằm vào lòng Phùng, từ đó đêm nào cũng tới. Lúc đầu Phùng còn giấu, sau bèn nói rõ. Cô gái nói “Thiếp không tới lầm đâu, kính trọng chàng mà tới đấy”. Hai người ngày càng khắng khít, đến khi công thự xây xong, Phùng định về nhà, cô gái đã chờ ngoài đồng. Thôn Phùng ở vốn không xa quận thành lắm, cô gái bèn theo về. Vào tới nhà, người nhà chẳng ai nhìn thấy nàng, Phùng mới biết đó không phải là người. Được vài tháng tinh thần suy giảm, Phùng lo sợ, mời thầy pháp tới trấn yểm, nhưng chẳng có kết quả gì. Một đêm cô gái ăn mặc đẹp đẽ tới gặp Phùng nói “Duyên nợ ở đời đều có định số, nên tới thì đuổi cũng không đi, nên đi thì giữ cũng không được, đêm nay xin vĩnh biệt chàng”, rồi biến mất.

266. Cầu Tiên

(Kê Tiên)

Mễ Bộ Vân ở huyện Chương Khâu (tỉnh Sơn Đông) giỏi cầu tiên, mỗi lần họp mặt với bạn bè đều cầu tiên, cùng nhau xướng họa. Một hôm, có người bạn thấy đám mây nhỏ trên trời nghĩ được một câu là Dương chi bạch ngọc thiên (Trời ngọc trắng mỡ dê), xin tiên đối lại. Tiên viết “Hỏi lão Đổng ở nam thành”. Mọi người ngờ là tiên không đối được, nên mới nói thác như thế. Sau Mễ có việc đi ngang cửa nam thành, tới một chỗ đất đỏ như đan sa, lấy làm lạ, thấy một ông già chăn lợn cạnh đó bèn hỏi. Ông ta đáp “Chỗ đó tục gọi là Trư huyết hồng nê địa (Đất bùn hồng máu lợn)”. Mễ chợt nhớ lại lời tiên, hoảng sợ hỏi tên thì ông già tự xưng là lão Đổng. Câu đối không có gì lạ nhưng biết trước rằng qua cửa nam thành ắt gặp lão Đổng, mới thật là thần tiên vậy.

267. Thư Sinh Bùn

(Nê Thư Sinh)

Thôn La có Trần Đại, lúc trẻ vụng về ngu xuẩn, lấy vợ là Mỗ thị rất đẹp. Nàng cho rằng lấy chồng không bằng người, uất ức bất đắc chí không chịu ngủ chung, mẹ chồng cũng để mặc. Một đêm Mỗ thị ngủ một mình, chợt nghe gió khua cửa rồi có một thư sinh bước vào phòng. Nàng rất sợ hãi, ra sức chống cự, nhưng gân cốt cứ nhũn ra, từ đó ít có đêm nào ngủ một mình. Hơn một tháng thì hình dung tiều tụy, mẹ lấy làm lạ hỏi, ban đầu nàng còn hổ thẹn không chịu nói, bà cứ hỏi mãi nàng mới nói thật. Mẹ hoảng sợ nói “Đó là yêu quái rồi”. Dùng hàng trăm cách bùa chú trấn yểm cũng không ngăn chặn được, bèn sai Đại lén núp trong phòng, cầm gậy chờ sẵn. Đến khuya, thư sinh quả nhiên lại tới, đặt mũ lên bàn, lại cởi áo mắc lên giá, chợt hoảng sợ nói “Có mùi người lạ”. Rồi vội vàng mặc áo vào. Đại trong chỗ tối nhảy xổ ra, đập trúng vào lưng, kêu thành tiếng bồm bộp, ngoảnh nhìn bốn phía thì thư sinh đã biến mất. Đốt đuốc lên soi, thì một mảnh áo bùn còn rơi trên mặt đất, cái mũ bằng bùn vẫn còn trên bàn.

268. Què Trả Nợ

(Kiển Thường Trái)

Ông Lý Trứ Minh tính khẳng khái hay làm ơn. Có người làng là Mỗ thuê nhà ông ở, người này lúc trẻ lười biếng, không biết làm ăn, nhà càng ngày càng nghèo, nhưng cũng khéo nghề vặt, thường khi qua giúp việc nhà, ông cũng trả công rất hậu. Những lúc không còn gì ăn, tới ông năn nỉ, ông cũng lập tức chu cấp cho. Một hôm y nói với ông rằng “Tiểu nhân thường ngày vẫn được cho nhiều nên một nhà ba bốn miệng ăn may không đến nỗi chết đói, nhưng làm sao lâu dài được! Xin chủ nhân cho tiểu nhân mượn một thạch đậu làm vốn”. Ông theo lời đưa cho, Mỗ đội về. Hơn một năm, không hề trả tí gì. Đến khi hỏi tới, thì số đậu làm vốn đã hết sạch cả, ông thương y nghèo cũng không đòi nữa. Ông đọc sách trong chùa, hơn ba năm sau, chợt nằm mơ thấy Mỗ tới nói “Tiểu nhân còn nợ đậu của chủ nhân, nay tới để trả”. Ông an ủi rằng “Nếu bắt ngươi trả, thì số ngày thường vẫn thiếu làm sao tính hết?”. Mỗ buồn rầu nói “Dĩ nhiên, nhưng nếu có làm việc gì giúp người, thì có nhận ngàn vàng cũng có thể không trả, còn nếu bỗng dưng nhận không của người, thì một đấu một thưng cũng phải tính, huống chi là nhiều hơn?”. Nói xong biến mất.

Ông càng ngờ, kế đó người nhà bẩm là tối qua con ngựa cái đẻ được một con ngựa con rất to lớn ông chợt nghĩ ra nói “Hay đó là Mỗ chăng?”. Mấy ngày sau ông về nhà, nhìn thấy con ngựa con, đùa gọi tên Mỗ, con ngựa con chạy tới như hiểu, từ đó thành tên. Ông cưỡi nó lên huyện Thanh Châu (tỉnh Sơn Đông), người quản gia trong phủ Phò mã nhìn thấy rất thích, muốn bỏ nhiều tiền ra mua, còn đang mặc cả chưa xong, ông vì có việc nhà gấp không chờ được, bèn cưỡi về. Hơn một năm sau, nó bị con ngựa đực cùng chuồng cắn nát xương chân, không thể chữa được . Có người thầy thuốc chữa bệnh ngựa tới nhà ông trông thấy nói “Xin cứ giao con ngựa này cho tiểu nhân mang về, sớm tối chăm sóc cũng phải mất nhiều thời gian, nếu may mà chữa khỏi, bán được giá sẽ chia lại cho ông”. Ông theo lời, mấy tháng sau người thầy thuốc bán con ngựa được một ngàn tám trăm đồng, đem một nửa dâng cho ông. Ông nhận tiền, mới sực nghĩ ra là vừa đúng với số tiền đậu Mỗ còn thiếu ngày trước. Ôi! Món nợ ở cõi dương gian mà âm phủ bắt phải trả, cũng đủ để răn người vậy.

269. Đuổi Quái

(Khu Quái)

Từ Viễn Công ở huyện Trường Sơn (tỉnh Sơn Đông) là Chư sinh của nhà Minh cũ, bỏ Nho theo Đạo, dần dần học được bùa phép, xa gần đều nghe danh. Có một nhà giàu ở huyện nọ sai người mang ngọc lụa kính cẩn tới mời, đem ngựa để đón. Từ hỏi mời ta có chuyện gì? Người gia nhân từ chối là không biết, chủ chỉ dặn phải cố mời bằng được mà thôi. Từ bèn lên đường, tới nhà thì trong sân đã dọn sẵn yến tiệc, chủ nhân đón tiếp rất lễ phép nhưng vẫn không nói là mời tới để làm gì. Từ không nhịn được, hỏi rằng “Ông muốn ta làm gì, mà còn ngờ vực chưa nói ra”. Chủ nhân vội nói không có gì, lại mời uống rượu, lời nói úp mở không sao đoán được. Trong lúc trò chuyện, không biết đã sắp tối. Chủ nhân bèn mời Từ ra vườn uống rượu, vườn xây dựng rất đẹp đẽ nhưng cây cối rậm rạp, cảnh vật âm u, hoa dại mọc đầy, cỏ mọc um tùm. Tới một căn gác thì tơ nhện giăng đầy cả trên dưới. Rượu được vài tuần thì trời tối hẳn, chủ nhân sai thắp đèn uống rượu tiếp, Từ lấy cớ không uống được nhiều rượu từ chối, chủ nhân bèn sai dẹp bàn tiệc mang trà ra. Bọn gia nhân vội vàng dọn dẹp bát dĩa, cất hết lên bàn trong gian phòng bên trái trên gác. Đang giữa tuần trà, chủ nhân lấy cớ có việc bỏ đi, người gia nhân cũng cầm đuốc đưa Từ vào nghỉ ở gian phòng bên trái, cắm đuốc lên chỗ đầu bàn rồi bước ra, có vẻ rất vội vã.

Từ cho rằng y đi lấy chăn màn tới ngủ cùng, chờ hồi lâu không thấy tiếng người nữa, bèn tự đứng dậy đóng cửa đi nghỉ. Ngoài song trăng sáng vằng vặc, Từ vào phòng lên giường nằm, nghe tiếng côn trùng mùa thu kêu rả rích kéo dài một lúc, trong lòng bồi hồi không sao ngủ được. Giây lát trên sàn có tiếng giày thình thịch đi tới, như là đạp mạnh vào sàn, tiếng vang rất to, thoáng cái đã tới cầu thang, rồi tới trước cửa phòng. Từ sợ nổi da gà, vội kéo chăn trùm lên mặt, thì cánh cửa đã tự nhiên mở ra. Từ hé góc chăn ra nhìn, thì thấy một con quái đầu thú mình người, lông lá xồm xoàm dài như bờm ngựa, đen kịt một màu, răng nhe chơm chởm, mắt sáng lập lòe. Tới trước cái bàn, nó cúi xuống hít hít những thức ăn thừa trong bát dĩa, lè lưỡi liếm qua một cái thì mấy cái dĩa sạch như chùi. Kế bước tới cạnh giường, hít hít lên chăn, Từ sợ quá vùng dậy chụp cái chăn lên đầu nó rồi la rầm lên. Con quái bị bất ngờ hoảng sợ vùng ra, tung cửa chạy mất.

Từ mặc áo định trốn đi, thì cửa ngoài vườn khóa chặt, không sao ra được. Đi men theo tường thấy có chỗ tường thấp bèn leo qua, thì là chuồng ngựa của chủ nhân. Người coi chuồng ngựa hoảng sợ, Từ kể lại chuyện rồi xin ngủ nhờ. Gần sáng, chủ nhân sai tìm Từ, thấy không còn trên lầu, hoảng sợ, tìm mãi thì ra ngủ chỗ chuồng ngựa. Từ gặp chủ nhân, rất căm hờn, giận dữ nói “Ta không biết phép thuật trừ yêu quái, ông lại bắt ta làm mà không nói trước một tiếng, trong bao của ta có một chiếc Như ý câu, lại không đưa tới chỗ ta ngủ, thì chết ta rồi”. Chủ nhân xin lỗi nói “Vốn ta cho rằng nếu nói rõ thì ông sẽ từ chối, lúc đầu cũng không biết trong hành lý có võ khí, thật là đáng chết”. Từ rốt lại vẫn hậm hực, đòi đưa ngựa về, từ đó yêu quái trong vườn cũng hết. Chủ nhân mời tiệc trong vườn, cười nói với khách khứa rằng “Ta không quên công lao của Từ sinh đâu”.

Dị Sử thị nói: Mèo đen mèo vàng gì cũng được, cứ bắt được chuột là tốt, lời nói ấy không phải sai. Nếu sau khi chụp chăn lên đầu con quái rồi hoảng sợ kêu la mà Từ lại giấu diếm nỗi sợ sệt khoe khoang là đuổi được yêu quái, chắc thiên hạ sẽ cho rằng Từ sinh là bậc thần nhân.

Content Protection by DMCA.com