Mọi người, chuyện này là chuyện có thật do một người họ hàng của em kể lại. Người trực tiếp gặp chuyện là con gái của một gia đình họ hàng, lúc xảy ra chuyện cô bé khoảng 15 tuổi. Nhà cô bé cũng ở ngay trong một ngôi làng nhỏ thuộc huyện giáp biên giới phía bắc, nơi gia đình em sinh sống ngày trước. Chuyện đã xảy ra hơn mười năm nhưng đến giờ cô ấy vẫn nhớ rất rõ.
Hồi đó khu vực này còn khá nghèo, người dân chủ yếu làm nông. Cứ vào cuối thu đầu đông, khoảng hơn 4 giờ chiều là trời đã xám xịt. Nhà nào cũng đốt than để sưởi nên trong làng thường có một lớp khói mờ, nhìn càng về chiều càng âm u. Chuyện xảy ra đúng vào một buổi chiều đầu đông như vậy. Trong họ hàng của cô bé có một bà cụ đã bệnh nặng và nằm liệt giường hơn một năm. Cô bé từ nhỏ đã quen bà, vì trước khi đổ bệnh bà vẫn thường sang nhà chơi, tính tình hiền lành và rất thương trẻ con.
Chiều hôm đó, khoảng 3 giờ, bà cụ qua đời tại nhà mình. Nhưng lúc ấy gia đình cô bé hoàn toàn chưa biết. Thời đó điện thoại chưa phổ biến, càng chưa có những ứng dụng nhắn tin như bây giờ. Nhà nào có người mất thì phải nhờ một người trẻ đi đến từng nhà họ hàng báo tin, quê họ gọi là “báo tang”, nên từ lúc người mất cho đến lúc họ hàng ở làng khác nhận được tin thường phải mất vài tiếng.
Khoảng 5 giờ rưỡi chiều, bố mẹ cô bé tan làm nhưng chưa về nhà ngay mà ra ruộng thu hoạch cải thảo. Ông bà nội thì đang sang ở nhà người chú theo kiểu các anh em trong gia đình luân phiên chăm sóc bố mẹ già, mỗi nhà một thời gian. Vì vậy hôm đó trong căn nhà chỉ còn một mình cô bé 15 tuổi. Trời lúc ấy đang nhập nhoạng, cái kiểu chưa tối hẳn nhưng cũng chẳng còn sáng. Trong nhà chỉ có một bóng đèn dây tóc màu vàng. Cô bé ngồi làm bài tập bên cạnh lò than, thỉnh thoảng phải nhìn xem than tổ ong đã cháy gần hết chưa để ra ngoài lấy viên mới vào thay.
Đúng lúc cô ra ngoài lấy than, con chó bị xích gần cổng bỗng sủa dữ dội về phía ngoài. Chó quê hồi đó chủ yếu nuôi để giữ nhà, bình thường thấy người lạ mới sủa như vậy. Cô nghĩ chắc có người đi ngang qua nên dỗ nó vài câu rồi quay vào. Nhưng một lúc sau con chó lại sủa, lần này còn dữ hơn. Cô bước ra sân nhìn về phía chiếc cổng sắt lớn, không thấy ai gõ cửa nên hỏi: “Ai đấy?”. Không có tiếng trả lời. Cô hỏi thêm mấy lần vẫn không ai lên tiếng, trong khi con chó cứ nhìn chằm chằm ra phía cổng mà sủa. Bắt đầu thấy sợ, cô mắng con chó vài câu rồi vào nhà tiếp tục làm bài. Sau này cô kể thật ra lúc ấy chẳng còn tâm trí nào mà học nữa, chỉ ngồi co người lại, tai cứ nghe động tĩnh ngoài sân.
Một lúc sau, con chó đột nhiên im bặt. Nhưng nó không trở lại bình thường mà bắt đầu phát ra tiếng ư ử trong cổ, giống như đang nhìn thấy thứ gì khiến nó rất sợ. Rồi chiếc cổng sắt bên ngoài vang lên một tiếng “keng”. Cô bé nghĩ chắc bố mẹ đã về nên vội bước ra. Trên đường từ cửa nhà ra cổng, cô nhìn xuống khe hở phía dưới cánh cổng và thấy một đôi giày màu trắng đứng ngay bên ngoài. Nhìn thấy rõ ràng có người, cô lại thấy yên tâm hơn, vừa đi tới vừa hỏi: “Ai đấy ạ?”. Không ai trả lời, chỉ còn tiếng con chó rên khe khẽ.
Đến sát cổng, cô hỏi thêm lần nữa. Lúc này bên ngoài mới có giọng một bà cụ đáp lại: “Dì đây, dì sang thăm bà nội cháu.” Cô bé nhận ra ngay giọng của bà họ hàng lớn tuổi vẫn thường sang nhà mình trước đây nên lập tức hết sợ. Cô vừa mở cổng vừa hỏi: “Sao hôm nay muộn thế này dì mới sang?”. Điều kỳ lạ là lúc đó cô hoàn toàn không nghĩ tới chuyện bà cụ đã bệnh nặng nằm liệt giường hơn một năm, bình thường căn bản không thể tự mình đi bộ tới đây.
Khi cổng mở, cô nhìn thấy bà mặc một bộ quần áo màu trắng, trông rất gọn gàng. Chỉ có khuôn mặt là kỳ lạ, dù đứng ngay trước mặt vẫn cứ mờ mờ, nhìn thế nào cũng không rõ. Cô nghĩ chắc tại trời đã tối nên không để ý rồi mời bà vào nhà. Lúc bà đi ngang qua con chó, con chó đang run rẩy bỗng nằm phục xuống đất, không sủa thêm tiếng nào. Cô còn thuận miệng nói: “Hôm nay con chó này lạ thật, lúc nãy nó sủa dữ lắm.” Bà cụ trả lời rất bình thường: “Chắc trước đây dì thường sang nên nó nhớ dì thôi.”
Hai người đi vào căn phòng đang bật đèn. Nhưng ngay cả dưới ánh bóng đèn vàng, cô bé vẫn không nhìn rõ khuôn mặt bà. Bà ngồi xuống ghế rồi hỏi: “Bà nội cháu đâu?”. Cô nói bà nội đang sang ở nhà chú, còn bảo: “Dì ngồi uống chút nước cho ấm rồi lát sang nhà chú gặp bà nhé.” Nghe vậy bà cụ nói: “Bà cháu sang nhà chú rồi à? Thế thì dì không sang nữa, dì sợ chú cháu, chú cháu sát khí nặng.” Cô bé lúc ấy chỉ nghĩ bà đang nói đùa, bởi người chú này trong nhà vốn nổi tiếng gan lì, chẳng sợ chuyện gì, trước đây còn từng được người xem số nói là người “mệnh cứng”.
Bà cụ không uống nước, chỉ ngồi rất thẳng trên ghế. Trong lúc hai người ngồi im, cô bé vô tình nhìn xuống nền nhà và nhận ra dưới ánh đèn hình như bà không có bóng. Cô cũng bắt đầu thấy không thoải mái nhưng vẫn chưa liên hệ được chuyện gì. Khoảng hai phút sau bà cụ nói: “Thôi dì về đây. Dì vốn định sang thăm bà cháu, bà không có nhà thì thôi.” Thấy bà chuẩn bị về, cô bé còn khách sáo bảo ở lại ăn cơm, rồi nói để mình lấy đèn pin đưa bà ra cổng. Cô quay người sang bàn tìm đèn pin, chỉ mất vài giây. Nhưng khi quay lại, chiếc ghế trước mặt đã trống không. Bà cụ biến mất.
Cô bé hoảng hốt chạy ra sân tìm nhưng không thấy ai. Con chó vẫn nằm phục dưới đất. Điều khiến cô sợ nhất là chiếc cổng sắt vẫn đóng và thanh chốt vẫn cài nguyên từ phía trong. Nếu bà cụ vừa đi ra thì không thể nào cổng lại còn khóa như vậy được. Không biết từ lúc nào ngoài sân còn nổi lên một trận gió rất lạnh. Đến lúc này cô bé mới thực sự hoảng, tự mở cổng rồi chạy một mạch ra ruộng tìm bố mẹ.
Khi cả nhà trở về, ban đầu mọi người đều nghĩ cô bé sợ quá nên nhìn nhầm. Ai cũng biết bà cụ kia đã bệnh nặng hơn một năm, làm sao có thể tự mình sang nhà được. Chỉ có bà nội cô nghe xong thì im lặng một lúc rồi nói: “Có khi người ta mất rồi cũng nên.”
Khoảng 9 giờ tối hôm đó, người đi báo tang mới tới nhà. Gia đình hỏi kỹ thì biết bà cụ đã mất lúc 3 giờ chiều. Trong khi cô bé gặp bà vào khoảng 5 giờ rưỡi. Tức là lúc cô nghe tiếng bà ngoài cổng, mở cửa cho bà vào, ngồi nói chuyện với bà rồi chuẩn bị lấy đèn pin tiễn bà về thì bà đã qua đời được hơn hai tiếng.
Sau chuyện đó cô bé sốt suốt khoảng một tuần rồi mới khỏi. Đến giờ cô ấy vẫn không dám khẳng định hôm đó mình đã gặp cái gì, nhưng mọi chi tiết đều còn nhớ: con chó từ sủa dữ dội chuyển sang nằm phục, người bà mặc đồ trắng nhưng không nhìn rõ mặt, ngồi dưới bóng đèn lại không có bóng, rồi chỉ trong vài giây quay lưng lấy đèn pin đã biến mất trong khi cổng vẫn khóa từ bên trong. Đặc biệt nhất là câu bà cụ nói khi nghe bà nội cô đang ở nhà người chú: “Dì không sang đó đâu, dì sợ chú cháu, chú cháu sát khí nặng.”
Điều đáng nói là vào thời điểm cô bé mở cánh cổng ấy, cô hoàn toàn chưa biết bà cụ đã mất. Chỉ đến hơn ba tiếng sau, người báo tang mới mang tin tới nhà.