Chào các cao nhân ở VOZ, tại hạ vừa mới lập ních trồi lên sau một thời gian dài nằm vùng học hỏi các bậc tiền bối.
Vốn có đam mê với những câu chuyện dã sử pha chút màu sắc tâm linh kinh dị, tại hạ có chắp bút viết một bộ truyện lấy bối cảnh xây dựng cầu Long Biên thời Pháp thuộc.
Lần đầu tiên múa rìu qua mắt thợ, tại hạ mạo muội lập thớt này để chia sẻ đứa con tinh thần với anh em. Khởi thủy văn phong có thể còn đôi chỗ non tay, rất mong các thím cứ thoải mái "lót dép hóng" và thẳng tay "ném gạch" để tại hạ có thêm động lực hoàn thiện tác phẩm.
Mời các thím pha tách trà, châm điếu thuốc và cùng lội ngược dòng lịch sử... Dưới đây là chương mở đầu, kính bút!
Lời nói đầu
Câu chuyện dưới đây tôi viết lên với sự tự hào sâu sắc với vùng đất mà tôi lớn lên: Long Biên, với nhiều thăng trầm lịch sử đã được khắc ghi vào tâm hồn của từng người con đất Việt. Từ những buổi đầu dựng nước của các vua Hùng, những anh hùng kiệt xuất mỗi thời kỳ vùng dậy giành lấy tự do cho dân tộc, cho đến Việt Nam bước vào thời kì đổi mới phát triển và khi Đảng ta viết lại giang sơn, tinh gọn bộ máy Nhà nước, cái tên Long Biên giờ chỉ còn trong ký ức những người ở lại. Nhưng giữa dòng chảy vĩ đại ấy, có một hình bóng vẫn lặng lẽ soi mình xuống dòng sông Hồng đỏ nặng phù sa, một chứng nhân bằng thép đã nếm trải đủ mùi vị của bom đạn, mồ hôi và cả những tiếng nấc thầm lặng của lịch sử: Cầu Long Biên. Với tôi, Long Biên không chỉ là tên của một cây cầu, một vùng đất, mà là một thực thể sống, một cuốn sử bằng thép mà mỗi nhịp cầu đều được kết nối bằng những mắt xích của số phận. Đã có bao nhiêu người đi qua đây để về với tự do? Và đã có bao nhiêu người mãi mãi nằm lại nơi móng cầu sâu thẳm, thịt xương hòa vào bùn đen, hơi thở tan vào gió lộng để dâng hiến cho sự trường tồn của nhịp bước hôm nay? Tôi viết câu chuyện này không chỉ để hồi tưởng, mà để đánh thức những âm thanh đã bị thời gian vùi lấp. Tiếng búa đập đanh thép của phụ cầu năm cũ, tiếng gào thét của những linh hồn trong cái chụp nén khí, và cả tiếng cười khải hoàn ngày tiếp quản Thủ đô. Long Biên dị truyện xin được bắt đầu từ những khoảng tối u linh dưới chân trụ đá, nơi âm khí trăm năm vẫn còn lẩn khuất, chờ đợi một ngày được kể lại bằng máu và lòng kiêu hãnh của những người con đất Việt. Để chúng ta biết rằng, dưới mỗi nhịp cầu vững chãi ta qua, là một vùng linh hồn bất tử của cha ông vẫn đang thức cùng sông núi.
Chương 1: Móng Đỏ
Năm 1858, thực dân Pháp bắt đầu xâm lược nước ta, đó là những ngày tháng đầy ác mộng với nhân dân Việt Nam. Chúng đặt ra nhiều chính sách phi lý, lấy danh nghĩa tự do, bình đẳng, bác ái để áp bức đồng bào ta, biến dân ta trở thành công cụ để phục tùng mệnh lệnh chính quyền Pháp, và trong đó cầu Long Biên không phải là ngoại lệ. Cầu Long Biên khi ấy được gọi là cầu Doumer, mang trên mình tham vọng của toàn quyền Paul Doumer về một công trình vĩ đại nhất Đông Dương, một khớp xương thép nối liền mạch máu giao thông từ Hà Nội đến các vùng mỏ phía Bắc. Thế nhưng, trong mắt những người lao động nghèo như Trần Văn Khoán, cây cầu ấy lại giống như một con quái vật khổng lồ đang hút cạn máu xương của người dân Việt để lớn lên từng ngày. Khoán là một kỹ sư trẻ tốt nghiệp trường Công Chính, một trong những người Việt hiếm hoi thời bấy giờ có kiến thức bài bản về cầu đường. Với tấm bằng ấy, lẽ ra anh đã có thể chọn một vị trí bàn giấy nhàn hạ, nhưng thực tế tréo ngoe của một trí thức mất nước đã đẩy anh ra tận công trường. Anh được tuyển vào hãng Daydé & Pillé với vai trò giám sát hiện trường, một vị trí trung gian đòi hỏi anh vừa phải đảm bảo độ chính xác của các bản thiết kế từ Paris, vừa phải điều phối hàng trăm phu cầu không biết một chữ bẻ đôi. Hằng ngày, Khoán khoác lên mình bộ đồ bảo hộ bằng vải thô, đội chiếc mũ cát trắng đã ngả sang màu vàng của bụi đá. Anh không đứng trên cao nhìn xuống như những đốc công người Pháp, mà trực tiếp có mặt tại các vị trí móng trụ cầu. Công việc của một kỹ sư tại đây không hề hào nhoáng như trong sách vở. Đó là những giờ phút căng não tính toán sự sụt lún của đất, là việc kiểm tra từng con ốc, nhịp thép dưới cái nắng cháy da người hay những cơn mưa dầm lạnh ngắt của vùng đất Bắc Kỳ. Hoàng hôn ở bãi bồi sông Hồng luôn mang một màu đỏ thẫm như máu đặc. Phía dưới chân cầu, xóm lán trại của phu cầu dựng tạm bằng những mảng tranh nứa xập xệ, bốc lên mùi hôi thối nồng nặc của rác rưởi, bùn lầy và phân người. Sau mười hai tiếng quật quật quật cuốc đá dưới lòng sông, những thân hình da bọc xương chỉ còn biết gục xuống chiếu cạp. Bữa ăn của họ chỉ có bát cơm hẻo hảnh trộn ngô mốc, có khi còn không được như vậy. Nhiều người phu lên cơn sốt rét run cầm cập, môi xám ngắt nhưng vẫn bị lũ đốc công Pháp cầm roi mây đến tận lán quật túi bụi, bắt phải bò ra công trường cho đủ quân số. Tiếng roi da vun vút hòa lẫn tiếng khóc nấc cay đắng của những gã đàn ông vốn quen tay cày tay bừa. Khoán sống lặng lẽ, tính cách trầm mặc khiến anh khác biệt hoàn toàn với vẻ huyên náo của đám đông hay sự hách dịch của các giám sát ngoại quốc. Anh luôn mang theo mình một chiếc đồng hồ bấm giờ và cuốn sổ kỹ thuật. Tuy nhiên, thay vì chỉ ghi chép những thông số áp suất khô khan, Khoán thường ghi thêm tên tuổi của những người phu cùng anh xuống hầm nén khí. Đối với anh, đó là trách nhiệm của một người kỹ sư có lương tâm, người hiểu rõ rằng đằng sau mỗi con số kỹ thuật chính xác là những đôi bàn tay rỉ máu và sự kiệt quệ của đồng bào mình.
Chiều nay, sương mù từ sông Hồng giăng kín nhịp cầu đang thi công dở dang. Tiếng máy nén khí rung lên bần bật, phả ra những luồng khói xám xịt khét lẹt mùi dầu cặn. Khoán siết chặt chiếc túi da đựng bản vẽ, bước chân nặng nề tiến về phía sà lan trụ số 3. Đó là trụ cầu khó thi công nhất do dòng nước xoáy sâu và địa chất phức tạp. Tại mép sà lan, toán phu mười hai người đang ngồi xúm lại quanh một ngọn đèn bão nhỏ để sưởi ấm. Trong đoàn người gầy tong teo ấy có thằng Ái, một cậu nhóc vừa tròn mười tám, quê ở mạn ngược. Bố mất sớm, nhà chỉ có hai mẹ con nghèo túng nên Ái phải bỏ làng đi làm phu cầu kiếm tiền gửi về cho mẹ chữa bệnh. Ái ngồi co ro, đôi bàn tay sạm đen vì vết thương đóng vẩy đang nắn nốt một chiếc bùa may mắn và rơm khô do mẹ nó tết cho trước ngày đi.
Khoán bước lại gần, ngồi xuống cạnh thằng bé, lấy từ trong túi áo ra một mẩu lương khô khô khốc dúi vào tay nó:
Ăn đi Ái, lấy sức mà xuống. Ca tối nay nặng đấy.
Thằng Ái giật mình, ngước đôi mắt trong veo nhưng hốc hác nhìn Khoán, bẻ đôi mẩu lương khô đưa lại cho anh một nửa:
Anh Khoán ăn cùng em… Anh Khoán này, liệu làm hết trụ này, tây nó có cho em về quê thăm mẹ vài ngày không anh? Mẹ em ở nhà một mình, lạnh thế này không biết cái lưng có đau lại không…
Khoán nhìn nó mà bất giác cổ họng anh nghẹn lại. Anh biết rõ quy định tàn nhẫn của hãng Daydé & Pillé: phu cầu đã ký giao kèo thì chỉ có hai đường rời khỏi công trường; một là hết hạn ba năm, hai là bỏ chiếu thả trôi sông. Nhưng anh không lỡ dập tắt tia hy vọng mong manh trong mắt đứa trẻ. Anh vỗ nhẹ vai nó, cố gượng một nụ cười mà đáp:
Cố lên. Ráng đào xong lớp móng này, anh sẽ xin cho chú nghỉ mấy hôm. Nhen!
Đúng lúc đó, tiếng bốt da nện rầm rập trên sàn gỗ sà lan, Jean - gã cai thầu người Pháp với thân hình đồ sộ và bộ ria mép hung dữ, bước tới. Gã giậm mạnh chiếc bốt da xuống sát mặt Khoán, đôi bàn tay lông lá vỗ mạnh lên vai anh khiến Khoán chao đảo. Jean cười hố hố, giọng đậm đặc tiếng Pháp vùng miền Nam:
Tiếng Pháp tốt, lại am hiểu máy móc, sao lại ngồi xúm xít với lũ lợn này làm gì hỡi Khoán? Anh là người thông minh, Khoán ạ. Anh phải giúp bọn họ hiểu rằng hi sinh cho văn minh là một vinh dự, anh hiểu chưa? Mau đốc thúc chúng nó chui vào chuồng đi. Nhanh lên!
Vốn dĩ trong lòng anh đã rất uất ức vì không cao cả vĩ đại gì cho việc đẩy những người đồng hương vốn dĩ quen với ruộng đồng, làng quê yên bình xuống cái hố tử thần đó. Khoán nghiến răng không đáp, anh liền nuốt trọn cục ức vào bên trong, cố để giọng không run rẩy:
Xuống thôi, anh em!
Mười hai người phu, người nào người nấy gầy tong teo, xương sườn nhô ra dưới lớp da sạm nắng, lầm lũi đứng dậy. Ái là đứa yếu nhất, đi sát sau lưng Khoán như muốn tìm kiếm một sự bảo vệ. Khoán đứng ngay bên cạnh miệng ống trục bọc thép, giơ cao chiếc đèn dầu để soi đường cho từng người phu bám thang sắt leo xuống lòng cái chụp nén khí đang chìm nghỉm dưới dòng nước xiết. Thằng Ái đi cuối cùng. Trước khi đặt chân xuống nấc thang đầu tiên, đôi bàn tay gầy guộc của nó còn bám chặt vào mép áo bảo hộ của anh như một bản năng tìm kiếm sự sống, ánh mắt nhìn anh đầy sợ hãi. Khoán khẽ gật đầu, ra hiệu cho đứa em yên tâm rồi bước xuống sau cùng, nhưng anh không xuống hẳn đáy bùn mà chọn đứng lại ở vài nấc thang trên cao để dễ bề giám sát áp suất. Tiếng cửa thép đóng lại một cách nặng nề: “Rầm!” , đó là âm thanh của sự ngăn cách. Phía trên là bầu trời, là gia đình, phía dưới là tăm tối, chèn ép và bùn lầy.
Xì, xì, xì…
Tiếng máy nén khí trên mặt đất bắt đầu gào rú. Qua đường ống dẫn bọc cao su dày cụm vào lòng chụp, luồng khí bị nén dưới áp lực khổng lồ tràn vào. Áp suất trong hầm tăng lên nhanh chóng, gấp ba rồi gấp bốn lần áp suất khí quyển để đẩy nước sông Hồng ra ngoài. Một cơn đau xé ruột xé gan lập tức ập đến. Khoán cảm thấy như có một bàn tay đá khổng lồ đang bóp nghẹt lồng ngực mình, phổi anh co thắt lại không thể hít sâu. Màng nhĩ anh đau nhức dữ dội, một tiếng o… o… kéo dài nhức buốt dội thẳng vào trung khu thần kinh. Dưới đáy hầm, mười hai người phu quằn quại. Ông Sáu, người già nhất đội, quỳ gối xuống bùn, hai tay ôm chặt lấy đầu, máu cam bắt đầu ứa ra từ hai lỗ mũi chảy ròng ròng xuống cằm. Mấy gã trai trẻ khác thì thở hổn hển như cá cạn bị quăng lên bờ cát nóng, mặt họ đỏ ngầu vì các mạch máu nhỏ bị vỡ tung dưới áp lực khí nén. Khoán nuốt nước bọt liên tục để cân bằng áp suất trong tai, tay rút đồng hồ bấm giờ ra. Kim giây nhích từng khoảng nặng nề. Khi chiếc chụp thép chạm hẳn vào lớp bùn cổ xưa dưới đáy sông, không gian bên xong chỉ còn là một màu xám xịt của hơi nước ngưng tụ và ánh sáng tù mù, chao đảo từ vài chiếc đèn dầu bám đầy muội than. Mùi không khí bên trong chụp là một hỗn hợp kinh tởm, từ mùi rỉ thép nồng nặc, mùi mồ hôi chua nát của những thân thể kiệt quệ đến mùi dầu mỡ máy móc và đặc biệt là mùi tanh hôi, phân hủy ngàn năm của lớp bùn đen bãi bồi sông Hồng bị xới tung.
Đào! Đào cho nhanh!
Tiếng gã cai người Pháp Jean vọng xuống qua ống nói bằng đồng gắn trên vách thép, âm thanh bị nén lại nghe méo mó, rùng rợn như tiếng gầm gừ của quỷ dữ từ cõi âm. Toán phu nghiến răng quỷ trên mặt bùn đặc quánh dày đến đầu gối. Họ vung những chiếc cuốc chim nặng trịch lên. Chát! Chát! Mỗi nhát cuốc đập xuống tầng đá dưới đáy sông là một lần tia lửa bắn tóe ra trong bóng tối mù mịt, và cũng là một lần họ đặt cược cả mạng sống của mình với số phận. Ở độ sâu gần ba mươi mét dưới lòng sông này, sự sống mỏng manh như một sợi chỉ. Nếu một mối hàn trên vỏ thép bị hở, hay máy nén khí trên sà lan chỉ cần khựng lại trong vài giây do hỏng bugi, áp lực nước khổng lồ của dòng sông Hồng sẽ ép bép cái hầm thép này như một vỏ lon nước ngọt, biến nó thành ngôi mộ sắt tập thể trong tích tắc. Khoán luồn hẳn một khuỷu tay qua nấc thang sắt lạnh ngắt, ghì chặt thân mình vào thành thang để không bị rơi xuống. Chịu đựng cơn đau như búa bổ đập vào lồng ngực từng giây từng phút, anh khó nhọc lôi cuốn sổ ra. Dưới ánh đèn dầu leo lét được móc tạm vào bậc thang phía trên, ảnh ép tì cuốn sổ bìa cứng vào vách thép rỉ sét, cắn răng nắn nót ghi từng dòng:
Trụ số 3 - ca đêm. Áp suất: 3.2 atm. Phu hầm: Nguyễn Văn Sáu, Vũ Văn Tư, Lê Văn Ái…
Anh ngước mắt nhìn xuống thằng Ái. Khuôn mặt thiếu niên mười tám tuổi giờ đây biến dạng hoàn toàn dưới áp suất, hai thái dương nó hằn lên những đốm tĩnh mạch xanh lét, đôi mắt đỏ chót rỉ lệ. Ái đang cắn chặt môi đến bật máu, dùng hết sức bình sinh của một đứa trẻ suy dinh dưỡng để bổ từng nhát cuốc vào lòng bùn.
Ái! Thở chậm thôi, đừng gắng sức quá! Vỡ mạch máu đấy!!
Khoán hét lên, nhưng âm thanh trong buồng nén khí nghe nghẹt đặc, như thể tiếng nói bị dìm xuống một lớp chất lỏng vô hình. Thời gian trôi qua nặng nề như chì. Càng đào sâu áp suất lại được tăng lên để ngăn dòng nước sông Hồng không ép bẹp cái hầm thép này. Không khí bên trong nóng bừng lên như một lò xông hơi bẩn thỉu. Mồ hôi hòa lẫn máu và bùn đen chảy ròng ròng vào mắt toán phu, mặn chát và buốt rát. Đột nhiên, giữa tiếng máy nén khí gầm rú bần bật, một tiếng Rắc! đanh gọn và lạnh lẽo vang lên từ góc chân tường thép phía đông. Mặt Khoán bắt không còn một giọt máu. Chưa kịp gào lên, mảng thép rỉ sét nổ tung thành một tiếng Bùm chát chúa. Áp lực khí nén 3.2 atm tìm thấy lối thoát, lao ra ngoài khe nứt tạo thành một lực hút chân không kinh hoàng. Hai người phu đứng cạnh đó không kịp cất tiếng kêu, thân hình gầy khẳng khiu bị lực hút giật ngược, đập nát vào những viền thép sắc lẹm của lỗ thủng vừa xé toạc, các thanh sắt đâm xuyên qua lồng ngực họ như những chiếc xiên thịt. Họ chết, mắt vẫn mở trừng trừng.
Khoán hốt hoảng quay ngoắt người về phía đáy hầm, gào lên bằng tất cả tàn lực còn lại trong lồng ngực:
Hỏng rồi, chụp vỡ rồi. Chạy đi anh em!!!!
Nhưng đã quá muộn. Áp suất trong hầm tụt dốc không phanh. Khí thoát đi, nước sông Hồng bên ngoài hoàn toàn mất lực cản. Hàng ngàn khối bùn nước đen ngòm như một con quái vật nhịn đói ngàn năm phá toang vách hầm đổ ập vào. Tiếng rít gào của nước lũ đè bẹp mọi âm thanh, nuốt chửng cái không gian chật hẹp.
Chạy! Lên thang mau!
Cả toán phu như bừng tỉnh khỏi cơn mê, họ hóa thành những con thú hoảng loạn trong một cái bẫy sắt. Anh Tư, một phu cầu lực lưỡng quê Nam Định, lao đến chụp lấy bậc thang đầu tiên. Nhưng đôi tay đầy bùn đất của anh trơn trượt, chưa kịp đu người lên thì từ phía sau, ba bốn bàn tay khác của những người anh em chí cốt hằng ngày đã cấu xé, lôi tuột anh xuống để tranh nhau một nấc sống. Nước dâng lên đến bụng rất nhanh, mang theo lớp bùn cổ xưa đen kịt, hôi thối. Sức nặng của phù sa quánh chặt lấy đôi chân trần, khiến mọi cử động trở nên chậm chạp như trong một cơn ác mộng bị bóng đè. Tiếng kêu khóc chìm dần dưới mực nước đỏ ngầu. Ông Sáu, người già nhất toán phu, sức kiệt không thể chen lấn nổi, đứng bất động nhìn dòng nước cuộn xoáy lên đến ngực. Ông không chạy nữa, đôi mắt lõm sâu nhìn về phía Khoán như một lời trăng trối, rồi một luồng nước xoáy dữ dội giáng thẳng vào gáy ông, nhấn chìm mái đầu hớt tóc bùn vào lòng đất sâu thẳm. Cứ thế, từng người một, những gương mặt thân quen trong cuốn sổ kỹ thuật của Khoán cứ thế lịm dần, bị nuốt chửng vào cái bụng đói nghìn năm của dòng sông dưới áp suất búa bổ, cho đến khi không gian chật hẹp ấy chỉ còn lại tiếng rít sấm sét của dòng nước và bóng dáng nhỏ bé của thằng Ái.
Khoán gào thét, bàn tay anh chộp lấy vai thằng Ái, dùng hết sức bình sinh đẩy mạnh nó về phía chiếc thang thép hẹp dẫn lên buồng điều áp phía trên. Nhưng thằng bé lúc này đã run cầm cập, đôi tay gầy guộc bám lấy nấc thang sắt lạnh ngắt một cách vô vọng. Vì quá sợ hãi trước cái chết của mười một người anh em vừa diễn ra trong chớp mắt, đôi chân nó khuỵu xuống, buông thõng giữa dòng nước lũ đang đục ngầu phù sa.
Anh Khoán ơi... cứu em!
Khoán nhoài người xuống từ nấc thang cao, một tay bám chặt thanh vịn sắt, một tay điên cuồng tóm lấy cổ tay đứa em, cố dùng hết tàn lực kéo thốc nó lên. Nhưng đúng lúc đó, một tiếng ầm vang trời, toàn bộ mảnh vách thép dưới đáy không chịu nổi sức ép đã bung ra hoàn toàn. Luồng nước dữ dội hất văng mọi thứ cản đường nó. Sức nước từ dưới đáy hầm thốc ngược lên ống trục như búa tạ giáng thẳng vào người, đánh bật bàn tay Khoán văng khỏi tay thằng Ái, hất mạnh cả thân hình anh đập vào thành thép khiến tầm nhìn nhòe đi. Trong cơn mê sảng, anh thấy bóng dáng thằng Ái đang bị dòng nước cuộn xoáy lôi tuột xuống lòng bùn đen. Đôi mắt nó nhìn anh, vẫn là cái nhìn đầy tin cậy ấy, nhưng giờ đây trộn lẫn với sự tuyệt vọng tột cùng. Nó không kịp thét lên tiếng nào nữa, bùn đỏ đã lấp đầy cuống họng của một thiếu niên vừa tròn mười tám.
Ái ơi, Ái ơi!!!
Khoán vươn tay ra, nhưng chỉ chạm được vào làn nước lạnh ngắt. Giữa làn nước dâng thốc lên như một cái piston thủy lực khổng lồ, bản năng sinh tồn của một gã trai vùng sông nước ép Khoán phải ôm chặt lấy thành thang sắt, điên cuồng đạp chân để trồi lên theo mực nước đang cuộn trào như vũ bão. Chỉ trong vài giây nghẹt thở, đỉnh đầu Khoán va mạnh vào mép hầm của buồng điều áp phía trên. Anh hớp được một ngụm khí hiếm hoi, hai tay rách da rớm máu bấu chặt vào gờ thép, rặn hết tàn lực trườn nửa thân người lên sàn buồng trên ngay trước khi cánh cửa sắt bị áp lực nước từ dưới đáy hầm tống thẳng vào, sập sầm lại một tiếng “Rầm” lạnh lẽo. Phía trên cao, tiếng gã cai thầu Pháp vẫn gào thét qua ống nói, thúc giục họ phải đóng van ngăn nước để cứu lấy cái móng cầu trị giá hàng vạn franc, chứ không phải để cứu lấy những mạng người đang chết chìm bên dưới. Đối với chúng, một cái chụp nén khí bị hỏng là một thảm họa tài chính, còn mười hai người phu chết đi chỉ đơn giản là một dòng thông báo tuyển dụng mới vào sáng hôm sau. Trận lụt trong lòng đất ấy đã kết thúc ca làm việc định mệnh tại trụ số 3. Khi buồng điều áp được xả khí, Khoán được những người ở phía trên dòng dây tời kéo lên mặt sà lan trong tình trạng nửa tỉnh nửa mê, toàn thân anh phủ một lớp bùn đen kịt. Anh là kẻ duy nhất sống sót trong toán phu mười hai người đêm đó. Cây cầu Long Biên vẫn tiếp tục vươn dài nhịp thép qua những năm tháng từ 1899 đến 1902, bỏ lại sau lưng hàng trăm xác người bị vùi lấp dưới chân trụ đá. Mỗi khi một nhịp cầu hoàn thành, tiếng đinh tán nổ ròn rã giữa không trung như những tiếng nấc cay đắng của kiếp người bỉ ải. Ái và mười một người anh em đêm đó không được đưa về quê, xác họ nằm lại, bị ép chặt dưới áp suất nghìn cân, hóa thành một phần của móng cầu vĩnh cửu. Nỗi uất hận lầm than của kiếp người Việt bị xích xiềng vào chân cầu đã kết tinh thành những câu vè ai oán, như một bản cáo trạng bằng lời vang vọng giữa nghìn trùng sóng nước sông Hồng:
Lập mưu xây được cây cầu
Chế ra cái chụp để mà bơm lên
Bơm hết nước đến bùn đen
Người chết như rạ, phải len mình vào
Vỡ bơm nước lại chảy vào
Chết thì mặc chết, ai nào biết không…
Ngày 28 tháng 2 năm 1902, lễ khánh thành cầu được tổ chức cực kỳ trọng thể. Toàn quyền Paul Doumer cùng giới chức thực dân Pháp đắm chìm trong tiệc tùng, rước đèn và âm nhạc châu Âu rộn rã. Chúng khi đó cho rằng những công trình xây dựng đậm chất châu Âu mọc lên trên nước Nam ta, đó là tiến bộ khoa học, khẳng định sức mạnh của nền văn minh Pháp, mặc kệ xương máu của những người đã ngã xuống vào những thời khắc tử thần đó. Khoán đứng lặng lẽ ở một góc xa trên thành cầu, mặc bộ đồ bảo hộ cũ kỹ. Mắt anh đăm đắm nhìn xuống dòng nước đỏ ngầu xoáy mạnh dưới chân trụ số 3. Nước mắt anh chảy ra mặt chát, hòa cùng làn sương đêm lạnh giá. Anh đau, một nỗi đau xé ruột xé gan nhưng bất lực. Anh không thể đưa thằng Ái về với mẹ nó, cũng không thể đòi lại công lý cho mười một người anh em. Thứ duy nhất anh có thể làm là ôm chặt cuốn sổ kỹ thuật sờn góc vào lồng ngực, nơi anh đã ghi cẩn thận từng tên tuổi, quê quán của họ. Anh tin rằng, chừng nào tên của họ còn được nhắc đến, linh hồn của họ sẽ không bị thời gian nuốt chửng. Nhưng trong lòng người kỹ sư trẻ ấy, một đốm lửa căm hờn đã bắt đầu nén lại, u uất và nhức nhối như một vết thương không bao giờ lành.
Đêm mùa đông năm ấy, gió sông Hồng thổi rít qua các dầm thép tạo thành những tiếng hú dài cô quạnh. Khoán bước đi liêu xiêu trên mặt cầu vắng ngắt. Anh châm một điếu thuốc lá, khói thuốc lá nghi ngút đem theo nhiều tương tư. Gió sông Hồng mát nhẹ tựa như đang ôm lấy anh, mang theo cả vị mặn của phù sa và mùi tanh tao của máu cũ. Anh đứng ngay trên trụ cột số 3, thuốc lá khiến lòng anh phiêu nhẹ, anh tựa lưng vào lan can thép lạnh ngắt, khẽ cúi đầu như một sự tri ân đến những con người hiền hậu nhưng cực khổ ấy. Anh đã mong ước có một phép màu xuất hiện, nếu phép màu đó có phải đánh đổi bằng sự hi sinh của anh thì anh cũng sẵn lòng, vì Ái, vì anh em và vì dân tộc này. Miên man trong dòng suy nghĩ mà anh không biết rằng, dòng nước ngay dưới anh đang xoáy mạnh một cách bất thường. Gió đang thổi bỗng lặng đi đột ngột. Dòng nước ngay dưới chân trụ số 3 vốn đang êm đềm bỗng cuộn lên những vòng xoáy dữ dội, nước va vào chân đế bê tông tạo ra những tiếng ầm ầm đục ngầu, như thể có một bàn tay khổng lồ từ dưới đáy sâu đang khuấy đảo tâm can dòng sông. Khoán giật mình, anh bám chặt lấy thành lan can thép lạnh ngắt, đôi mắt cố xuyên qua màn đêm đặc quánh để nhìn xuống hạ lưu. Bất chợt, từ giữa tâm vòng xoáy, một đốm sáng xanh nhạt như màu của ma trơi nơi nghĩa địa hiện lên, rồi từ từ lan rộng thành một vùng sáng mờ ảo. Trong tiếng gió rít qua những thanh dầm thép, Khoán nghe thấy một âm thanh không phải của tự nhiên. Đó là tiếng gõ nhịp nhàng, đục và đanh: cộc... cộc... cộc... đều đặn phát ra từ chính lòng trụ đá số 3. Âm thanh ấy rung động lên tận gan bàn chân, khiến toàn thân Khoán run bắn vì một luồng điện lạnh ngắt chạy dọc sống lưng. Dưới mặt nước, những bọt khí lớn bắt đầu nổi lên sùng sục như thể có một chiếc chụp nén khí vừa bị vỡ tung lần nữa. Một hình bóng mờ ảo, nhỏ bé hiện ra ngay sát mép trụ cầu. Hình bóng ấy mang theo khuôn mặt của một thiếu niên, nhòe nhoẹt vì nước và sương đêm nhưng đôi mắt sáng lờ mờ ảo diệu, đủ để anh nhìn thấy. Anh chứng kiến cảnh đó không khỏi sợ hãi, nhưng sao hình bóng đó thật quen thuộc…
Cái dáng người gầy khẳng khiu, đôi vai hơi nhô lên vì những năm tháng gồng gánh, và cả cách nó nghiêng đầu nhìn anh. Một luồng điện chạy dọc sống lưng, không phải do cái lạnh của âm ty mà là cái lạnh của sự bàng hoàng tột độ. Cổ họng Khoán khô khốc, anh mấp máy môi, phải mất vài giây thì mới tìm lại được giọng nói của chính mình. Tiếng gọi ấy không vang xa, nó vỡ vụn rồi nghẹn lại nơi cuống phổi, chỉ vừa đủ cho anh nghe thấy:
Ái… Ái ơi! Là em phải không Ái!
Cái bóng đó không đáp lại, chỉ lẳng lặng đứng đó, và rồi một cảnh tượng kinh hoàng hơn xuất hiện: xung quanh chân cầu không chỉ có một cái bóng, mà là hàng trăm cái bóng khác xuất hiện, chúng cũng mờ mờ ảo ảo. Bất giác anh Khoán cảm thấy lạnh sống lưng, như thể có ai đó đang ở đằng sau mình vậy. Anh không dám quay đầu lại ngay lập tức. Cái lạnh ở sau gáy không phải là gió, mà là một thứ áp lực đặc quánh, lạnh lẽo như thể ai đó vừa áp một tảng băng rỉ sét vào da thịt anh. Những tiếng gõ cộc… cộc dưới chân trụ số 3 chốc vang lên dồn dập hơn, hòa cùng tiếng nước sóng vỗ vào móng đá, tạo nên một bản nhạc tang tóc giữa đêm trường. Anh lấy hết can đảm, chậm rãi xoay người lại. Đứng ngay sau anh, sát sạt đến mức anh có thể nhìn thấy những mảng bùn khô trên lớp áo vải thô, là mười một người phu trong toán của anh năm ấy. Họ đứng dàn hàng ngang, che kín lối đi trên nhịp thép. Những gương mặt từng chung bát cơm, từng cùng anh chịu áp suất trong buồng nén khí, giờ đây chỉ còn là những khối sương mờ xám xịt. Anh giật mình ngã lăn ra đất, giọng nói có phần run sợ:
M… Ma, ma!!!!!! Anh xin các em. Xin đừng lấy mạng của anh, anh biết… anh biết các chú oan ức, anh biết các chú hận bọn mũi lõ ngoài kia, nhưng anh cũng chỉ là một thân phận lầm than như các chú thôi…
Anh vừa nói vừa lùi lại, tay chân luống cuống mất phương hướng, tiếng răng anh đánh vào nhau cầm cập, nghe rõ mồn một giữa sự tĩnh lặng đến rợn người của đêm sông Hồng. Anh đã chuẩn bị tâm lý để trả thù Pháp, nhưng đối mặt với những người anh em từng vào sinh ra tử nay đã trở thành những thực thể không thuộc về cõi người, nỗi sợ hãi bản năng vẫn bóp nghẹt lấy trái tim anh. Thế nhưng, những cái bóng ấy không tiến tới để đòi mạng. Họ chỉ đứng đó, bất động như những pho tượng tạc. Bất chợt, giữa đám đông đó, cái bóng nhỏ bé nhất, thằng Ái, từ từ tách ra khỏi đám đông. Nó lướt đi trên mặt thép, dừng lại ngay trước mặt Khoán, khẽ giơ tay ra. Anh có linh cảm rằng đêm nay sẽ là đêm cuối của mình, vì những lỗi lầm của anh trong quá khứ nên anh cảm thấy bản thân xứng đáng với cái chết đang cận kề. Anh nhắm chặt mắt lại, chờ đợi bàn tay đó bóp nghẹt cổ mình. Nhưng rồi, anh cảm thấy một luồng hơi lạnh dịu nhẹ, tựa như làn sương ban sớm, chạm khẽ vào mu bàn tay đang run rẩy của mình. Khoán hé mắt. Ái không nhìn anh bằng sự giận dữ. Đôi mắt sáng lờ mờ ấy ẩn chứa một nỗi buồn sâu thẳm và một sự cầu khẩn lạ kỳ. Thằng bé đưa bàn tay gầy khẳng khiu ra, chỉ thẳng vào trái tim Khoán, rồi lại chỉ về phía những nhịp cầu đang vươn dài trong bóng tối. Dường như anh đã hiểu ra điều gì đó, nhưng rồi một lời nói cắt ngang qua dòng suy nghĩ của anh:
Thằng Khoán! Mày làm cái gì ở đây giờ này?
Một tiếng quát khàn đặc, nồng nặc mùi rượu vang cắt ngang dòng suy nghĩ của Khoán. Đốc công Daniel, gã người Pháp cao lớn khét tiếng tàn bạo, thích hành hạ thể xác, ngạo mạn và nghiện rượu. Tay hắn lăm lăm chiếc gậy can bọc đồng nặng trịch. Sự xuất hiện của gã xua tan đi không khí huyền bí. Lũ bóng ma tan biến vào sương mù trong chớp mắt. Khoán vội vàng cúi đầu, nuốt cơn nghẹn vào trong:
À dạ vâng thưa đốc công, ngài tha lỗi cho tôi, xin ngài tha lỗi cho tôi… Tôi đi kiểm tra lại tán nhịp số 3 sau ca trực đêm ạ
Cút ngay về lán! Lần sau còn lảng vảng ở đây tao cho một gậy gãy xương! Nghe chưa?
Dạ, dạ…
Anh liền nhanh quay về cái túp lều của anh ở ven sông, tránh rước họa vào thân. Daniel nhìn theo bóng Khoán lầm lũi khuất dần, gã khẽ hừ một tiếng khinh miệt rồi lững thững tiến về phía trụ số 3. Gã chưa muốn về ngay. Gió sông Hồng lúc này thổi lồng lộng, mang theo hơi nước mát rượi khiến cơn say trong gã trở nên hưng phấn hơn. Daniel gác một chân lên lan can thép, lôi trong túi áo ra một chiếc hộp bạc chạm trổ tinh xảo, rút lấy một điếu xì gà đắt tiền. Gã đánh diêm. Ngọn lửa bùng lên giữa đêm tối, soi rõ gương mặt đỏ gay vì rượu và đôi mắt đầy vẻ ngạo mạn. Daniel nhả một làn khói trắng đục vào hư không, miệng lẩm bẩm những câu hát tiếng Pháp đầy vẻ hưởng thụ. Gã đứng ngay đúng vị trí mà năm xưa, cái chụp nén khí đã nuốt chửng toán phu của Khoán. Với gã, cây cầu này là vinh quang của mẫu quốc, là bằng chứng cho sự thống trị của những kẻ thượng đẳng. Thế nhưng, điếu xì gà mới cháy được một nửa bỗng nhiên tắt lịm. Daniel cau mày, gã đánh diêm lần nữa. Nhưng lạ thay, que diêm vừa quẹt lên, ngọn lửa không có màu vàng cam bình thường mà lại ánh lên sắc xanh lét như mắt mèo, rồi vụt tắt ngay lập tức như có ai đó vừa thổi vào gáy gã:
Cái quái gì thế này?? – Gã làu bàu bằng tiếng Pháp
Gã định quẹt que diêm thứ ba, nhưng đôi tay gã bỗng trở nên cứng đờ. Dưới chân gã, từ mặt sàn thép rỉ sét, một lớp nước mỏng bắt đầu tràn ra, thấm đẫm đôi bốt đồ sô của gã. Nước không phải từ trên trời rơi xuống, cũng không phải do sóng đánh lên cao. Nó rỉ ra từ chính những con đinh tán, đỏ quạch như máu và đặc quánh như phù sa. Điếu xì gà trên môi Daniel rơi xuống. Gã nhận ra một sự im lặng chết chóc đang bao trùm. Dưới chân cầu, dòng sông Hồng đang trong mùa cạn bị chặn dòng để thi công móng trụ bỗng tĩnh lặng một cách quỷ dị. Chỉ còn một âm thanh duy nhất... :
Xì, xì, xì…
Daniel kinh hoàng, đó chẳng phải là tiếng của chụp nén khí sao, nhưng mà cầu đã xây xong rồi thì sao nó lại xuất hiện vào giờ này. Chưa kịp để hắn định thần thì hắn cảm thấy vai hắn nặng trĩu, một luồng khí lạnh thổi dọc sống lưng hắn. Lúc này hắn đã hoàn toàn sợ hãi, hắn khẽ từ từ quay đầu ra sau. Trong làn khói xì gà còn sót lại, gã thấy Ái. Đứa trẻ ấy không còn đứng xa nữa, nó đang đứng ngay đằng sau gã, đôi chân trần đầy bùn đất và hình hài chân thật đến từng milimet. Khuôn mặt Ái nhòe nhợt nước sông, nhưng đôi mắt đỏ ngầu thì sáng rực lên một cách ma mị:
Nóng… áp suất… nóng quá…
Gã kinh hãi mà hét lên:
Trời ơi, ma, ma, là ma, ma…
Hắn vùng vằng trong sợ hãi và chạy đi không thèm quay đầu lại, nhưng mà càng chạy, hắn lại càng thấy cây cầu không có điểm dừng. Nhịp cầu cứ dài ra mãi, hun hút vào màn đêm không một bóng người. Hắn vừa chạy vừa la kêu cứu, nhưng dường như chả ai nghe thấy tiếng của hắn cả. Hắn chạy đến hụt hơi, lồng ngực đau nhói như bị ai đó bóp chặt. Daniel dừng lại, vịn tay vào thành cầu thở dốc, nhưng khi nhìn xuống chân, hắn kinh hoàng nhận ra mình vẫn đang đứng đúng ngay vị trí cũ: trụ số 3. Lúc này, sương mù từ sông Hồng dâng lên đặc quánh, nuốt chửng cả ánh đèn bão lờ mờ phía xa. Trong không gian tĩnh lặng đến rợn người, tiếng thì thầm ấy lại vang lên, lần này không phải từ sau lưng mà là từ bốn phương tám hướng, len lỏi vào từng thớ thịt của gã:
Nóng... nóng quá... nóng quá… cứu chúng tôi…
Bất thình lình, những thanh dầm thép xung quanh Daniel bắt đầu rỉ ra một thứ chất lỏng đỏ quạch như máu. Thứ nước ấy chảy loang lổ dưới chân gã, nóng hổi và bốc mùi bùn đất nồng nặc. Gã hét lên một tiếng thất thanh, rút khẩu súng lục ra bắn loạn xạ vào màn sương:
Cút đi! Lũ An Nam chết tiệt! Đừng có giả ma giả quỷ, tao bắn chết tụi mày đó!
Đoàng! Đoàng!
Tiếng súng nổ đanh gọn nhưng chỉ sau một tích tắc, không gian lại rơi vào im lặng tuyệt đối. Những viên đạn dường như bị màn sương nuốt chửng. Ngay lúc đó, từ dưới sàn thép, hàng chục bàn tay tím tái, nhầy nhụa bùn đất đồng loạt vươn lên. Chúng không bóp cổ gã ngay, mà bám chặt lấy đôi bốt, lấy bắp chân, rồi leo dần lên người gã. Daniel cảm thấy cơ thể mình nặng trịch, áp suất xung quanh tăng lên đột ngột khiến tai gã bắt đầu chảy máu. Gã thấy Ái, đứa trẻ ấy hiện ra ngay trước mặt, không còn vẻ tin cẩn xưa kia, mà chỉ còn là một khuôn mặt biến dạng vì áp suất, đôi mắt đỏ ngầu nhìn thẳng vào linh hồn tội lỗi của gã. Ái đưa bàn tay nhỏ bé lạnh ngắt áp vào má Daniel, giọng nó vang lên như tiếng rít của hơi khí nén:
Đến giờ đi làm ca đêm rồi... Đốc công!
Một lực kéo kinh hồn từ hàng trăm bàn tay đồng loạt giật mạnh. Daniel không kịp kêu thêm một tiếng nào, gã bị lôi tuột qua khe hở của nhịp thép, rơi thẳng xuống hố móng trụ số 3 đang cuộn xoáy. Không gian lại trở lại dáng vẻ bình yên vốn có, và từ đây cơn ác mộng chính thức bắt đầu. Ngày hôm sau tin tức về sự biến mất đầy bí ẩn của đốc công Daniel đã đến tai của nội bộ chính quyền Pháp. Chúng cho lính xuống lục soát khắp dải bãi bồi, lùng sục từng căn lều rách sau hàng rào dây thép gai của phu dịch. Nhưng lính Pháp không thể tìm thấy bất cứ dấu vết nào... Thứ duy nhất còn sót lại đó là cây roi da và điếu xì gà hút dở ở trên cầu, càng cố gắng điều tra thì mọi thứ chỉ càng dẫn đến ngõ cụt. Những tên lính gác bắt đầu rỉ tai nhau về một thực thể tà ác đang trú ngụ ngay trong lòng những nhịp thép. Để trấn an binh lính và tiếp tục công việc, giới chức Pháp đã điều thêm hai tên đốc công tàn bạo khác là Pierre và Marc để thay thế Daniel. Pierre là một kẻ nghiện rượu nặng, còn Marc là một gã hiếu sát, bên người luôn mang theo một khẩu súng lục đã được nạp đạn sẵn. Đêm ấy, sương mù sông Hồng dâng lên đặc quánh, nuốt chửng cả những nhịp thép khổng lồ vào lòng nó. Gió mùa Đông Bắc rít qua những khe thép rỗng tạo thành những âm thanh u u, trầm bổng kéo dài như tiếng hú của quỷ dữ, át đi mọi tiếng động nhỏ nhất trên mặt sàn cầu. Lính gác ở các chốt đầu cầu bấy giờ đều thu mình trong những vọng gác có mái che, mắt chẳng thể nhìn quá một tầm tay bởi màn mưa phùn giăng mắc làm mờ mịt cả ánh đèn bão. Hai thằng vừa đi vừa nói về sự biến mất của Daniel:
Ê mày ơi, có khi nào thằng Daniel nó bị trượt chân xuống dưới sông xong chết không – Marc hỏi
Thì tao cũng chỉ nghĩ đến cái đó thôi, chứ mấy thằng oắt An Nam bị quây sau hàng rào kẽm gai kia cứ ma ma quỷ quỷ gì không biết – Pierre đáp
Dưới nòng súng, chúng sinh bình đẳng, mày nhể? – Marc đùa
Hai thằng vừa đi vừa cười khặc khặc, rồi ai nấy làm nhiệm vụ của mình, người phía trước kẻ đằng sau, hai đôi mắt đảo như rang lạc. Khi vừa đến đúng giữa nhịp cầu số ba, Pierre bỗng dừng lại để chỉnh lại dây giày:
Này Marc, đợi một chút để tao thắt lại dây giày đã
Pierre cúi xuống, tiếng gió sông Hồng rít qua khe thép nghe như tiếng rên rỉ của ai đó dưới lòng đất. Khi Pierre vừa thắt xong nút dây, gã đứng dậy và nói:
Xong rồi, đi tiếp thôi
Nhưng không có tiếng trả lời. Pierre quay đầu lại. Chỗ Marc đứng ban nãy giờ chỉ còn là một khoảng không đen ngòm. Khẩu súng trường của Marc nằm chơ vơ trên sàn thép, nhưng người thì đã biến mất tăm hơi. Không một tiếng súng, không một tiếng kêu cứu, cũng không có cả tiếng động khi rơi xuống nước.
Marc? Marc ơi! Mày đừng có đùa tao! – Pierre hét lên, giọng lạc đi vì kinh hãi.
Gã giơ cao chiếc đèn bão, ánh sáng vàng vọt quét qua những nhịp thép lạnh lẽo. Gã chạy ngược lại phía sau vài bước, rồi lại chạy về phía trước:
Marc! Thằng chó, mày ở đâu?
Vẫn chỉ có tiếng gió đáp lại. Pierre bắt đầu chạy loạn xạ trên cầu, nhưng gã bàng hoàng nhận ra mình cứ chạy mãi mà vẫn chỉ đứng đúng ngay vị trí cũ, nơi khẩu súng của Marc đang nằm. Bất thình lình, từ trong màn sương mù đặc quánh, một tiếng gõ nhịp nhàng vang lên ngay dưới chân gã:
Cộc... cộc... cộc…
Pierre đứng chết trân. Tiếng gõ ấy không phát ra từ dưới lòng đất, mà nó vang lên từ chính bên trong những nhịp thép rỗng dưới chân gã, rung động truyền thẳng qua đế bốt, chạy dọc lên tận não bộ. Gã run rẩy cúi xuống, và qua ánh sáng vàng vọt của chiếc đèn bão đang chao đảo, gã thấy những con đinh tán trên mặt sàn cầu đang từ từ... xoay tròn. Một cái bóng nhỏ bé vụt qua nhanh như một tia chớp đen, tạt ngang qua mặt Pierre.
A! A! Cút ra! Cút ra! – Gã hét lên, vung tay đấm vào không khí nhưng chỉ chạm phải làn sương lạnh ngắt.
Chưa kịp định thần, một lực đẩy kinh hoàng từ phía sau giáng thẳng vào lưng Pierre. Gã bị hất văng về phía trước như một con búp bê vải. Rắc! Pierre va sầm vào một thanh dầm thép hình chữ V chéo của nhịp cầu. Tiếng va chạm khô khốc vang lên giữa đêm vắng. Gã lảo đảo đứng dậy, máu từ trên trán bắt đầu chảy xuống, nóng hổi và che lấp tầm nhìn. Pierre hoảng loạn quay đầu lại, nhưng lần này không chỉ là một cái bóng. Hàng chục cái bóng đen đúa, gầy guộc đang lao đi vun vút quanh gã với tốc độ chóng mặt. Chúng không chạm vào gã, nhưng mỗi lần vụt qua, chúng lại tạo ra một luồng áp suất cực mạnh hất tung Pierre va đập liên hồi vào các cạnh thép sắc lẹm của cây cầu.
Tha... tha cho tôi... – Pierre thào thào, hàm răng đã gãy nát, hơi thở khò khè.
Một bóng đen dừng khựng lại ngay trước mặt gã. Là Ái. Khuôn mặt thằng bé biến dạng trong một nụ cười lạnh lẽo. Ái không dùng tay, nó chỉ khẽ nghiêng đầu. Một luồng lực vô hình mạnh khủng khiếp như có hàng ngàn cân khí nén tống ra từ họng súng, hất bổng Pierre lên cao rồi nện thẳng đầu gã vào nhịp thép phía trên. Cộp! Một tiếng vang rợn người nhưng nó nhanh chóng bị tiếng gió rít qua các khe thép băm nát và cuốn đi theo dòng nước cuộn xoáy bên dưới. Hộp sọ của Pierre không chịu nổi cú va đập ngàn cân, vỡ toác ra ngay tại chỗ. Máu và óc văng tung tóe lên những thanh thép rỉ sét, đỏ quạch hòa cùng màu của phù sa sông Hồng. Thân hình Pierre đổ ụp xuống như một đống giẻ rách, co giật vài cái rồi bất động hoàn toàn. Ái từ từ tiến lại gần cái xác. Nó nhặt chiếc bình rượu bạc móp méo của Pierre lên, rồi thả nhẹ xuống khe hở nhịp thép.
Tùm!
Sau đó, những bàn tay tím tái từ dưới sàn cầu vươn lên, lôi tuột cái xác của Pierre xuống lòng sông, không để lại lấy một dấu vết nhỏ nhất trên mặt sàn, trừ vị tanh nồng của máu vẫn còn lẩn khuất trong sương. Lúc ấy, ở phía đầu cầu, Khoán đang thu dọn đồ nghề sau ca trực muộn. Anh chợt khựng lại. Một luồng khí lạnh không phải của mùa đông tháng 2 mà buốt đến tận tủy xương chợt xộc vào mũi. Anh ngửi thấy một mùi vị rất lạ: nó không hẳn là mùi phù sa, mà là mùi sắt rỉ hòa lẫn với vị tanh nồng của máu tươi, đặc quánh lại trong làn mưa phùn. Khoán nhíu mày, anh giơ chiếc đèn dầu lên phía nhịp cầu số 3. Ánh sáng yếu ớt chỉ xuyên qua được màn sương dày đặc chừng vài thước.
Này! Có ai ở đấy không? – Khoán gọi lớn, giọng anh hơi run.
Không có tiếng trả lời nào. Xung quanh chỉ có tiếng sương mù giăng mắc và tiếng gió rít qua những khe thép rỗng tạo thành những âm thanh u u kéo dài. Khoán chậm rãi bước về phía trụ số ba, đôi bốt cao su của anh nện xuống mặt cầu nghe bạch... bạch.... Đến gần vị trí mà Pierre vừa ngã xuống, Khoán dừng lại. Anh thấy sàn cầu sạch bách, nhẵn thín dưới màn mưa, nhưng trái tim anh bỗng đập liên hồi một cách vô thức. Anh cúi người, đưa bàn tay thô ráp sờ lên thanh dầm thép chữ V. Nó vẫn lạnh, nhưng là một cái lạnh kỳ quái, như thể nó vừa hấp thụ hết hơi ấm của một sự sống nào đó. Ngón tay Khoán chạm vào một vũng nước nhỏ. Anh đưa lên mũi ngửi: mùi tanh nồng ban nãy lại xộc lên.
Lạ thật... sao lại có mùi này?
Khoán đứng dậy, nhìn xuống dòng sông Hồng đen ngòm dưới chân. Anh nhớ lại hình ảnh cái bóng nhỏ bé của Ái mà anh thấy hôm trước. Một ý nghĩ lóe lên trong đầu nhưng anh vội gạt đi ngay lập tức:
Không thể nào... mình hoa mắt thôi. Ái nó mất rồi, làm sao mà…
Anh tự trấn an mình rằng chắc là con thú nào đó bị rơi hoặc do áp suất nén khí cũ còn sót lại gây ra ảo giác. Nhưng khi Khoán quay gót định rời đi, anh chợt nghe thấy một tiếng gõ cực nhỏ phát ra từ bên trong nhịp thép, ngay dưới lòng bàn chân anh: cộc. Chỉ một tiếng duy nhất. Ngắn gọn, chắc nịch như một lời chào, hoặc một lời khẳng định. Khoán giật mình, bước chân loạng choạng. Anh không dám ngoái đầu lại, cứ thế cắm cúi chạy thật nhanh về phía khu lán trại phía sau hàng rào dây thép gai. Đêm đó, nằm trong lều, Khoán trằn trọc nhìn lên mái nứa. Anh cảm thấy có một sợi dây liên kết nào đó đang hình thành giữa mình và cây cầu, một thứ bí mật mà anh chưa dám gọi tên, nhưng nó khiến anh vừa lạnh người, vừa có một cảm giác an tâm đến kỳ lạ. Những ngày sau đó, công trường cầu chìm trong một bầu không khí u uất. Sự biến mất của bộ ba đốc công ác ôn khiến giới cầm quyền Pháp lo sợ thực sự, nhưng chúng không tìm ra bằng chứng của một vụ mưu sát. Khoán cũng rất sợ, nhưng cái sự sợ hãi đó lại mang một dáng vẻ thật quen thuộc. Nửa đêm, anh liền lẻn lên cầu, lợi dụng bóng tối và sự lơ là của những toán lính gác đang run rẩy ở các vọng lâu đầu trụ, anh đi đến đúng nhịp cầu số 3 với một bát cơm cúng và thắp một nén hương. Khoán đặt bát cơm xuống cạnh thanh dầm thép, khẽ lẩm bẩm:
Nếu là các chú... thì nhận cho anh.
Vừa dứt lời, anh liền cảm nhận được một luồng gió nhẹ nhưng ấm áp một cách phi lý lướt qua má Khoán như cái vuốt tay của trẻ nhỏ và rồi:
Cốc, cốc, cốc
Tiếng kêu đó lại xuất hiện và khi anh quay lại, bát cơm đã biến mất và khói nhang từ từ bị hút vào bên trong từng nhịp cầu. Khoán đứng chết trân trong giây lát, đôi mắt anh dán chặt vào khoảng không nơi bát cơm vừa hiện hữu. Sự biến mất không một tiếng động, không một mảnh vụn rơi rớt ấy chính là lời khẳng định đanh thép nhất: Ái và những người anh em vẫn ở đây, ngay trong lòng những nhịp thép này. Một giọt nước mắt nóng hổi lăn dài trên gò má đầy bụi than của Khoán, không phải vì sợ, mà vì một nỗi nhẹ nhõm đến xé lòng. Và từ đây, một bản hiệp ước vô hình được ký kết, thứ mà không phải một người bình thường có thể hiểu được…