Chương 2: Bạch Diệm
Bốn mươi ba năm ngỡ như một cái chớp mắt. Những vết máu cũ đã bị rỉ sét ăn mòn, những con đinh tán bóng loáng năm nào giờ đã nhuốm màu thời gian. Cây cầu thép từng là niềm tự hào của văn minh thực dân giờ đây đã khoác lên mình một cái tên mới: cầu Long Biên dưới quyết định lịch sử của Thị trưởng Trần Văn Lai.
Lão Khoán bây giờ đã ngoài sáu mươi, mái tóc bạc trắng như sương mù sông Hồng vào những đêm cuối đông. Sau cái đêm định mệnh khánh thành cầu, lão đã chọn ở lại, bám trụ lấy những nhịp thép này như một cái nghiệp không thể dứt bỏ. Trong suốt quãng thời gian đó, việc có quân địch mất tích một cách bí ẩn trên cầu Long Biên đã trở thành một điều quá đỗi bình thường của lão. Mỗi ngày đều có quân địch biến mất, người dân ai nấy đều bàn tán xôn xao, có người thì bảo rằng cây cầu này đích thị là đã bị quỷ ám, còn có người thì cho rằng có thể là do quân ta đã bí mật phục kích quân địch. Duy chỉ có lão, người hay đi qua dòng người vẫn liên tục bàn tán về cái chết của địch, là biết chúng đã thực sự va chạm phải thứ gì. Ngoài ra lão còn lập gia đình với một người phụ nữ hiền hậu tên Mận. Lão quen cô ngay sau khi cây cầu được hoàn thành, lúc đó ông sống vật vờ như một bóng ma vì dằn vặt, vì hối hận. Mãi đến những năm 1920, trong một lần nuôi giấu cán bộ Việt Minh bị Pháp truy nã bên xóm bãi sông Hồng, ông gặp bà, khi đó là một cô giáo làng liên lạc cho phong trào Cách mạng. Hai người vì cùng hận địch yêu nước mà nảy sinh tình cảm, họ yêu nhau và có với nhau một người con trai, đặt tên là Quốc Vinh, cái tên gửi gắm ước vọng về một ngày dân tộc thoát khỏi cảnh lầm than, giành lấy vinh quang. Cuộc sống tuy có nhiều khó khăn nhưng hai vợ chồng luôn đồng lòng cố gắng, không phải vì bản thân mình mà vì mầm non kia cần có cuộc sống tốt hơn cha mẹ nó. Nhưng vốn cuộc đời không bao giờ công bằng, ông trở thành bố đơn thân vì vợ hy sinh trong một trận càn của địch, ông và đứa con nhỏ vẫn sinh tồn trong túp lều ven sông mà ông ở từ khi làm cầu.
Rồi một thảm họa nhân đạo khủng khiếp nhất trong lịch sử dân tộc xuất hiện: nạn đói năm 1945. Dưới chân cầu, Hà Nội không còn vẻ hào hoa của kinh kỳ. Thay vào đó đó là một nấm mồ khổng lồ lộ thiên. Từ các tỉnh Thái Bình, Nam Định, người dân đói khổ dắt díu nhau đổ về thành phố như những đoàn quân thây ma. Họ bước đi liêu xiêu, bộ dạng gầy khẳng khiu chỉ còn da bọc xương, đôi mắt hõm sâu chứa đựng sự tuyệt vọng tột cùng. Mùi tử khí nồng nặc bốc lên từ những xác người nằm co quắp bên vệ đường, trên mặt sàn thép của cây cầu, hay dưới gầm cầu nơi những người không còn sức để đi tiếp đã chọn làm nơi trút hơi thở cuối cùng. Những thây ma khô héo, nằm chồng chất lên nhau, người sống không còn sức để khiêng người chết, họ chỉ lầm lũi bước qua nhau như những bóng quế giữa màn sương mù đặc quánh. Số lượng người chết nhiều tới nỗi chúng phải dùng đến cả xe cam nhông quân sự để chở xác đi quẳng xuống những hố chôn tập thể. Đau đớn thay, có những người chỉ mới lịm đi vì kiệt sức, hơi thở vẫn còn thoi thóp nhưng vì người ta quá vội vàng, quá kinh hãi, nên đã lỡ tay chôn sống cả người còn đang sống. Khổ ải hơn nữa, tình hình chính trị không thể bất ổn hơn: quân phát xít Nhật sau khi tiến vào Đông Dương đã dần thâu tóm quyền kiểm soát từ tay Pháp. Những chiếc xe tải của quân đội Nhật với lá cờ mặt trời mọc lăn bánh rầm rập, làm rung chuyển cả những móng trụ cầu. Lính Nhật tàn ác và thô bạo hơn cả thực dân Pháp. Chúng thiết lập thêm các chốt kiểm soát dày đặc, bắt người dân qua cầu phải cởi mũ cúi chào. Chỉ cần một thoáng chậm trễ, một góc cúi chưa đủ sâu hay đơn giản là làm một tên lính "ngứa mắt", báng súng gỗ nặng trịch sẽ táng thẳng vào sườn, dùi cui quất nát vai, hoặc những cái tát nảy lửa làm người ta ngã dúi dụi xuống nền bê tông. Nhiều cụ già ngã gục, máu me bết dính cùng bùn đất, nhưng vừa gượng dậy lại phải lập tức cúi đầu tạ tội vì sợ lưỡi lê đâm xuyên qua cổ họng. Giữa cái rét cắt da cắt thịt của mùa đông hay cái nắng cháy da của mùa hè, không ít người bị bắt quỳ gối hàng giờ đồng hồ trên sàn cầu rỉ sét, chân tay co quắp, chịu sự nhục nhã tột cùng trước mắt dòng người lầm lũi đi qua. Không dừng lại ở việc đày ải con người, lính Nhật biến cầu Long Biên thành một tấm lưới lọc sinh quái đản để vơ vét. Bất cứ gánh hàng rong, thúng mủng hay chiếc xe đẩy nào đi từ phía ngoại thành Gia Lâm vào nội đô đều bị chúng xới tung đến tận cùng. Trong những ngày đỉnh điểm của nạn đói năm 1945, những thúng gạo, ngô, khoai lang ít ỏi mà người dân gom góp, nhịn ăn nhịn mặc mang vào thành phố cứu đói cho gia đình lập tức bị lính Nhật thẳng tay tịch thu hoặc đạp đổ tung sãi xuống sông Hồng dưới những tiếng cười hô hố man rợ. Bất kể ai có ý định van xin hay chống đối đều bị khép vào tội hỗ trợ Việt Minh và bị đánh đến thừa sống thiếu chết. Ban đêm, cây cầu biến thành vùng đất chết, nội bất xuất ngoại bất nhập. Những chiếc đèn pha công suất lớn từ các bốt gác tuần tra đầu cầu quét dọc mặt thép và quét xuống bãi bồi sông Hồng suốt đêm, sẵn sàng dùng đạn vạch đường bắn nát bất cứ bóng người nào lảng vảng.
Một đêm tháng 2, trời lạnh buốt đến tận tủy xương hòa cùng mùi hôi thối nồng nặc từ bãi sông Hồng thổi lên. Lão Khoán ngồi trong chòi canh, lặng lẽ quan sát Vinh, lúc này đã là một thanh niên cao ráo và là chiến sĩ biệt động bí mật, nhiệm vụ của anh là nghe lén và thu thập thông tin về kế hoạch bố trí quân sự của phát xít Nhật. Anh phải băng qua cây cầu để tiến gần hơn vào các căn cứ quân sự của Nhật vốn trước kia thuộc về Pháp. Đây là một cuộc đánh cược bằng mạng sống. Lão nhìn con, giọng trầm thấp:
Vinh này, con có bao giờ tự hỏi tại sao giữa cái thời buổi đói khát này, khi người ta sẵn sàng dẫm đạp lên nhau để sống, mà cây cầu này vẫn đứng vững không? Đêm nay, con không cô đơn đâu…
Vinh nhíu mày, nhìn cha mình với vẻ mơ hồ:
Cha nói gì lạ vậy? Còn ai khác ngoài con nữa sao?
Ông chỉ khẽ mỉm cười, nhìn anh với ánh mắt trìu mến:
Rồi con sẽ hiểu thôi…
Vinh lúc này cũng đã chuẩn bị mọi thứ xong xuôi, dự tính là sẽ xuất phát sau vài phút nữa. Ông cũng ra sắp xếp kiểm tra tất cả mọi thứ cùng anh và rồi cũng đến lúc lên đường. Trước khi đi ông có đưa cho Vinh một con dao đã hoen rỉ đôi phần nhưng vẫn đủ sự sắc bén, nhìn anh mà nói:
Con đừng nghe bằng tai. Hãy nghe bằng lòng mình. Có những thứ không cần giấy mực, chỉ cần một tiếng là đủ để hiểu nhau cả một đời người… Hãy nhớ lời ta.
Vinh nghe xong cũng không giấu khói sự khó hiểu, nhưng cậu cũng ậm ừ cho qua, bởi lẽ cậu nghĩ bố mình cũng đã có tuổi nên có thể hơi lẩm cẩm. Và rồi cậu lên đường, bóng của cậu chìm dần vào trong màn đêm, lúc này ông Khoán mới vào trong lều, lấy ra một nén hương và cắm ngay bờ sông, khẽ nhìn ra xa xăm không nói một lời nào…
Vinh lúc này đã bước lên mặt cầu. Trước mắt anh là một thanh xương sống dài nối liền hai mảnh đất, và tính mạng của anh như ngọn nến trước gió. Để ngụy trang, anh chọn đi ngay trên mặt của làn đường ray chính giữa. Trên mình anh là bộ quần áo bảo hộ của phu đường sắt đã bạc màu, vai vác một thanh tà vẹt gỗ gụ nặng trịch, tay phải xách chiếc hòm đồ nghề bằng sắt rỉ. Con dao của cha được giấu khéo léo trong bọc giẻ lau đầy dầu mỡ, còn cuốn sổ và cây bút chì mật vụ nằm im lìm dưới đáy chiếc hòm sắt, phủ lên trên bởi hàng trăm con đinh tán. Phía hai bên cánh gà bê tông, tiếng xích xe tải quân sự Nhật gầm rú lăn bánh rầm rập làm cả mặt cầu rung lên bần bật. Tiếng giày đinh của những toán lính tuần tra Nhật nện xuống sàn nghe bộp... bộp... đục ngầu, nặng nề như tiếng gõ cửa của tử thần. Anh cúi gằm mặt, giả vờ như một gã phu đang kiệt sức vì đói khát, chậm rãi dùng chiếc búa tạ gõ cộc... cộc... vào các thanh dầm thép dọc đường ray để kiểm tra rỉ sét. Mỗi tiếng cộc vang lên, ánh mắt anh lại liếc nhanh qua khe hở của hệ giàn thép, thu trọn vào tầm mắt vị trí ụ súng máy của địch đang chĩa thẳng ra sông Hồng. Lính Nhật đi lướt qua anh, lưỡi lê tuốt trần trên vai chúng loang loáng phản chiếu ánh sáng đèn pha. Chúng chỉ liếc nhìn gã phu An Nam gầy gò đang lầm lũi làm việc, khinh miệt hừ một tiếng rồi bước qua, không hề biết rằng bản kế hoạch bố trí quân sự của chúng đang bị ghi lại sau mỗi bước chân nện xuống mặt sàn cầu. Bất ngờ, từ sau lưng truyền đến tiếng quát lớn:
Đứng lại!
Ngay lập tức một sự chột dạ len lỏi dọc xương sống của Vinh, mồ hôi anh nhễ nhại ra như tắm, đang thầm cầu nguyện trong lòng:
Bỏ mẹ rồi… Chả có nhẽ chúng nó phát hiện ra mình sao…
Không kịp để cho anh nghĩ, tiếng bước chân của toán lính Nhật ngày càng tới gần anh hơn. Anh khẽ hít một hơi thật sâu để trấn an đi cái tinh thần đang bị xáo trộn bên trong. Tay anh đã lăm lăm cầm con dao giấu sẵn trong cái bọc, định rằng sẽ cắt cổ một tên lính mà liều mạng chạy thoát. Nhưng tiếng vọng lại không phải là gọi anh, mà là toán lính Nhật vừa bắt được một người ăn mặc rách rưới, mặt lấm lem bùn và đất khô. Một tên trong số đó trợn trừng mắt, quát lớn:
Khai mau!! Mày là người của Việt Minh đúng không??
Vừa nói hắn liền thúc những cú đấm móc vào bụng làm người ấy thổ huyết. Vinh nhìn kỹ lại thì anh hoàn toàn sốc, đấy là đồng chí cùng anh và một số đồng chí khác cùng nhận nhiệm vụ trinh sát. Người đồng chí ấy quặn người lại vì đau đớn, hai tay bị trói chặt ra sau bằng dây thép gai cứa sâu vào da thịt, nhưng ánh mắt anh vẫn quật cường, kiên quyết không hé môi nửa lời. Gã sĩ quan chỉ huy chốt tuần tra đi tới, rút khẩu súng Nambu từ thắt lưng ra, chĩa thẳng vào thái dương của người chiến sĩ, giọng khàn đặc:
Hanase! (Nói!) Mày đến do thám bọn tao đúng không?
Thấy đồng chí của mình cắn chặt môi đến bật cả máu, mắt trừng trừng nhìn quân thù rồi bất ngờ anh tóm chặt lấy tay của viên sĩ quan, kéo mạnh xuống ngang mặt anh mà nhổ một bãi nước bọt lẫn máu tươi vào mặt tên sĩ quan. Gã sĩ quan điên tiết lau bãi máu trên mặt, mặt biến dạng vì nhục nhã. Hắn gạt phắt chốt an toàn, kê sát họng khẩu Nambu vào giữa trán người chiến sĩ.
Shine! (Chết đi!)
Tiếng nổ chát chúa xé toạc màn đêm tháng 2. Một vệt máu đỏ thẫm văng nhoe nhoét lên những thanh dầm thép uốn lượn. Người đồng chí của Vinh đổ gục xuống mặt đường bê tông, hơi thở đứt đoạn, nhưng đôi mắt kiên trung vẫn trừng trừng không chịu nhắm. Hai tên lính hạ cấp cười hô hố man rợ. Chúng túm lấy gấu quần cái xác bê bết máu, hất tuột qua mép lan can mà thả xuống. Một tiếng tõm nặng nề vang lên từ lạch nước xoáy dưới lòng sông, nuốt chửng lấy người chiến sĩ vô danh. Trong bóng tối ở làn đường ray giữa, Vinh chết trân. Trái tim anh như bị ai đó thò tay vào bóp nát. Đôi mắt anh hằn lên những tia máu đỏ sòng sọc. Bàn tay anh siết chặt cán dao găm hoen rỉ đến mức các khớp ngón tay trắng bệnh, rớm máu. Bất chợt, một tên lính Nhật vô tình thấy Vinh nhìn chúng, hắn mới quát lớn:
Kura! (Này, thằng kia!)
Tiếng quát xé giằng qua không gian rét buốt. Tên lính Nhật quay phắt lại, tay lăm lăm họng súng gắn lưỡi lê sáng quắc, mắt trợn ngược chỉ thẳng vào nách dầm thép nơi Vinh đang nấp. Toàn thân Vinh căng ra. Căm phẫn dồn nén đến tột cùng khiến lồng ngực anh thở dốc, mắt hằn lên những tia máu đỏ sòng sọc. Lý trí dặn anh phải nhẫn nhịn vì bản đồ quân sự, nhưng nhìn vệt máu đồng chí vẫn còn ngút khói trên mặt đường bê tông, ngọn lửa thù hận đã thiêu rụi mọi dự tính tháo chạy. Nhận ra tên lính đang lềnh bềnh bước tới, Vinh nhanh trí ôm lấy đầu, thu mình lại giả vờ run rẩy như một gã phu đường sợ hãi trước họng súng. Tên lính Nhật tưởng bắt vía được kẻ yếu hèn, hắn hợm hĩnh tiến sát lại, giơ đầu lưỡi lê định hất chiếc bọc giẻ lau dưới chân Vinh kiểm tra. Ngay khoảnh khắc lưỡi lê vừa hạ xuống ngang tầm mắt, Vinh giữ chặt họng súng, bất ngờ anh rút con dao găm từ trong bọc giẻ ra, vặn mình lao tới cắm sâu lưỡi thép vào cổ họng hắn. Chỉ nghe thấy một tiếng sục đục ngầu vang lên. Tên lính Nhật trợn ngược mắt, ú ớ không kịp kêu lên một tiếng, máu tươi từ vết thương phun xối xả ra tay Vinh, nóng hổi giữa cái rét cắt da cắt thịt của đêm tháng 2. Mắt hắn trợn ngược lên, cơ thể khẽ giật lên vài tiếng, nhưng chưa hết, Vinh giật mạnh đầu hắn như để hắn nhìn thấy khuôn mặt dữ tợn của anh, chưa kịp để hắn kêu lên thì ngay lập tức Vinh đâm liên tiếp dao vào thái dương của hắn, máu bắn ra thành vòi, bắn cả lên mặt anh. Trong mắt hắn lúc này, Vinh không khác gì tử thần gõ cửa, mặt Vinh dính máu, đôi mắt sắc lạnh như quỷ từ địa ngục lên. Xác tên lính gục xuống đường ray, tạo nên một tiếng thịch nặng nề. Những vệt máu tươi bắn vọt lên giàn thép cùng mùi khói súng chưa tan đã lập tức đánh động hai tên còn lại. Gã sĩ quan và tên lính hạ cấp quay phắt lại. Thấy đồng bọn gục chết trong biển máu dưới chân gã phu An Nam, gã sĩ quan rít lên điên cuồng:
Chikushō !! Teki da!! (Đồ súc sinh! Có địch!!)
Tiếng gào đanh thót vang vọng giữa mặt sông vắng, xé tan màn sương mù tháng 2 và dội thẳng về phía bốt gác tuần tra gần đó ở đầu cầu. Ngay lập tức, tiếng chuông báo động bằng đồng từ bốt gác rống lên liên hồi. Tiếng giày đinh nện rầm rập xuống sàn cầu vang lên dồn dập. Do sương mù dày đặc che khuất tầm nhìn, chiếc đèn pha công suất lớn từ bốt gác rọi dồn về phía Vinh, đồng thời ổ súng máy tại chốt ban đầu xả từng loạt đạn vạch đường chát… chát… đỏ rực quét mù tạt qua giàn thép để dọn đường cho toán hiến binh đang nhào ra tiếp viện!
Trong khoảnh khắc sinh tử tính bằng phần trăm giây, phản xạ của một chiến sĩ trinh sát trong Vinh bùng phát. Không một động tác thừa, anh cúi gập người, tay trái giật phắt khẩu súng trên lưng cái xác vừa gục xuống, xoay nòng, nghiến răng nhấn cò liên tiếp về phía hai kẻ thù!
Đoàng! Đoàng!
Tiếng súng đanh thép xé tan màn đêm rét buốt. Viên đạn đầu tiên găm thẳng vào ngực tên lính hạ cấp khiến hắn bật ngược về sau, đổ gục xuống mép lan can. Viên thứ 2 xuyên qua bắp tay gã sĩ quan, làm khẩu súng trên tay hắn văng xuống sàn bê tông. Bị thương đầm đìa máu, gã sĩ quan Nhật vẫn ôm lấy cánh tay nát bấy, điên cuồng dồn hết tàn lực thổi rít hồi còi đồng bên hông để thúc giục toán quân viện đang rầm rập áp sát chỉ còn vài chục mét. Vinh rơi vào thế ngàn cân treo sợi tóc. Khẩu súng cạn sạch đạn, phía trước là họng súng của toán tiếp viện đang lao tới trong sương mù, hai bên là khung thép giàn dầm nổ chát chúa vì đạn súng máy cày xới.
Mả mẹ nó chứ, sao lại hết đạn giờ này???
Đôi mắt đẫm máu của Vinh rực lên ngọn lửa căm hận tột cùng. Anh nghiến chặt răng, nện mạnh gót chân xuống mặt đường ray, định dùng thân mình chồm ra khỏi nách dầm thép để liều chết xé xác gã sĩ quan kia trước khi gục ngã dưới mưa đạn của quân viện.
Được, đã đến nước này thì… Bố, bố ở lại mạnh khỏe…
Bỗng nhiên luồng ánh sáng chói lóa từ chiếc đèn pha công suất lớn rọi dồn vào mặt Vinh bỗng chao đảo rồi chuyển sang màu xanh lét nhạt nhòa, ma mị và rồi vụt tắt hẳn.
Cái đéo gì vậy??? – Tên lính Nhật kêu lớn.
Không gian xung quanh bỗng trở nên im lặng một cách quỷ dị, bất chợt xung quanh không gian phát ra một tiếng kêu nghe rợn người
Xì, xì, xì….
Cả lũ đứng chết trân, cả Vinh cũng như vậy, chỉ thấy lúc này không gian bị bóp méo, trở nên vô thực một cách đáng sợ. Chưa kịp hiểu chuyện gì xảy ra thì ngay lúc này, một tên lính Nhật mặt đỏ bừng bừng bắt đầu ôm đầu rú lên trong đau đớn và rồi chỉ nghe thấy tiếng Bùm… cái đầu của tên lính Nhật vỡ tung, các mảng thịt văng ra hòa lẫn với máu tươi và cái dịch màu trắng trắng, toát lên cái mùi hôi tanh đến rợn người. Vinh chứng kiến cảnh vậy, anh liền ngã lăn ra vì sợ hãi. Quá hoảng sợ, tên sĩ quan gần đó mới hét lớn.
Chúng mày, bắn cho tao, bắn cho tao – Hắn vừa nói, giọng lạc đi vì sợ hãi.
Ngay lập tức, toán lính Nhật cũng vì sợ hãi mà tất cả đều giơ súng mà bắn loạn xạ. Vinh dù rất sợ nhưng thực sự anh chỉ thấy đầu tên kia nổ tung, chứ không hề biết ai đã làm cái chuyện này. Đáp lại tiếng súng của toán lính Nhật, không gian bỗng truyền đến một âm thanh lạnh lẽo, khô khốc như từ âm ti vọng về
Máu tươi, máu tươi. Nhiều máu tươi ở đây quá, hehehehe…
Toán lính Nhật điên cuồng siết cò, những vệt đạn vạch đường đỏ rực xé rách sương mù, găm cạch cạch vào khung thép nhưng chẳng trúng bất cứ thứ gì ngoài hư không. Tiếng cười ma mị, ma quái ấy cứ luồn lách qua từng khe đinh tán, dội từ dưới lòng sông lạnh lẽo ngược lên, xoáy thẳng vào màng nhĩ khiến từng tế bào trên cơ thể bọn chúng run lên bần bật.
Xịt, xịt, xịt…
Không gian lại càng trở nên bị bóp nghẹt hơn bao giờ hết, người duy nhất đang chứng kiến tất cả vẫn là Vinh, vì anh không cảm nhận được gì cả, dường như chỉ có chúng nó mới cảm nhận được chuyện gì đang thật sự diễn ra. Trong mắt bọn chúng lúc này, áp suất cõi âm xé rách màng nhĩ, hút nát vòm họng và ép phẳng lồng ngực bọn chúng trong tích tắc. Máu tươi, mảng da và tạng phủ vỡ nát phun xối xả ra từ mắt, mũi, miệng và hậu môn, văng tóe nhòe nhoẹt lên các khung thép rỉ sét, bốc lên mùi hôi tanh đặc quánh hòa cùng mùi tử khí rợn người.
Rắc! Crắc! Crắc!
Một lực hút vô hình cực mạnh giật ngược hàng chục thân hình phát xít Nhật về phía giàn gióng hai bên hông. Thân thể chúng bị nén chặt, kéo lê trên sàn bê tông rồi tống mạnh vào các khe hở chữ V hẹp xé nát giữa các dầm thép. Tiếng xương bánh chè, xương chậu và xương sườn nứt vỡ ken két vang lên gai người khi các con đinh tán rỉ sét to bằng ngón tay trỏ đóng vai trò như những chiếc đinh câu, đâm xuyên qua lớp áo trấn thủ, găm chặt thân xác nát bấy của bọn lính vào kết cấu cây cầu. Một tên lính bị giật ngược lên cao, cái cổ hắn bị ép chặt vào góc giàn thép đến mức cái đầu đứt lìa khỏi cổ, rơi bộp xuống mặt đường ray ngay sát chỗ Vinh đang nằm ngã, đôi mắt dại xệch vẫn còn trợn ngược. Máu từ phần thân còn treo lủng lẳng bên trên chảy xuống như một trận mưa rào đỏ quạch, nhuộm thẫm cả chiếc áo phu đường sắt của Vinh. Gã sĩ quan là kẻ cuối cùng chịu hình phạt. Hắn bị lực nén xềnh xệch kéo lê trên sàn, toàn bộ mảng da lưng bị ma sát xé rách rưới. Một con đinh tán đâm thẳng từ vòm họng ra sau gáy, khóa chặt hắn trên giàn thép trong tư thế há miệng cầu xin không thành tiếng. Chỉ trong tới chưa đầy một phút, tất cả toán lính bao vây Vinh giờ đã trở thành những bãi thịt bầy nhầy bốc lên mùi tanh khiến người ta phải nôn khan mỗi khi hít phải. Không gian lại trở nên im lặng, chỉ còn lại tiếng gió đêm tháng 2 rên siết qua các khe giàn thép và tiếng máu chảy róc rách... róc rách... từ trên khung cầu xuống sàn bê tông rồi rơi thẳng xuống lòng sông Hồng. Vinh nằm bệt dưới sàn đường ray, toàn thân run lên lẩy bẩy. Mùi tử khí nồng nặc hòa cùng mùi máu tươi đặc quánh xộc thẳng vào mũi khiến cổ họng anh co thắt dữ dội. Anh nôn mửa liên tục, hai tay bấu chặt vào thanh tà vẹt gỗ gụ để giữ cho bản thân không bị ngất đi. Máu của tên lính bị đứt đầu từ trên giàn thép vẫn nhỏ giọt đều đặn xuống lưng áo phu đường sắt của anh, nóng hổi và nhớp nháp. Bất chợt, Vinh giật bắn mình mà lùi ra sau vì trước mặt anh hiện tại, sương mù xung quanh ngưng tụ lại và rồi hiện hình là một bóng người với đôi mắt đỏ lòm. Vinh lắp bắp, hai tay giơ ra xua xua đằng trước và vừa lùi ra sau.
Ơ, ơ, ơ tôi, tôi, tôi xin, tôi xin, tha cho tôi, tha cho tôi… – Vinh nói trong sự dồn dập của nhịp thở
Cái bóng càng ngày càng tới gần, ánh đèn pha công suất lớn từ đầu cầu bất ngờ chao đảo rồi rọi một luồng sáng xanh ma mị trùm lên bóng hình ấy. Lúc này Vinh đã có thể nhìn rõ hơn hình thù của cái bóng ấy, đó là một thiếu niên trạc 13-14 tuổi, người trần chân đất, gầy khẳng khiu và toàn thân phủ đầy một lớp bùn đen kịt. Đôi mắt đỏ rực ban nãy giờ đã dịu đi phần nào, thay vào đấy anh cảm nhận được là sâu trong đôi mắt ấy, có cái gì đấy nó đượm buồn đến kì lạ. Cái bóng không nói không rằng, chậm rãi tiến đến bên cạnh Vinh rồi từ từ quỳ gối xuống. Nó đưa bàn tay gầy guộc, lấm lem bùn đất nhẹ nhàng chạm lên mặt Vinh. Cảm giác mát lạnh từ lớp bùn lập tức dịu đi nỗi sợ trong lòng. Vinh sững người, hơi thở dồn dập bắt đầu hạ nhiệt. Anh nhìn chằm chằm vào khuôn mặt ngây thơ nhưng chàm bầm vết tích thời gian của đứa trẻ. Ngay lúc đó, từ khắp các nách dầm thép chữ V và những khe hở đinh tán hoen rỉ xung quanh nhịp số ba, sương mù lại cuộn lên. Mười một cái bóng khác dần bước ra, đứng lặng lẽ phía sau thằng bé. Đã bốn mươi ba năm trôi qua kể từ thảm kịch nổ ống nén khí năm 1899, những người phu hầm oan khuất năm xưa vẫn mang trên mình thân thể biến dạng, những vết nứt sâu tạc vào da thịt. Họ không mang vẻ hận thù, mà tạo thành một hàng rào thép âm linh, ánh mắt kiên định nhìn về phía đống thịt băm của toán lính Nhật. Thằng bé ngẩng đầu nhìn Vinh, cất cái giọng khàn đặc, khô khốc như hai thanh sắt cọ vào nhau giữa đêm rét.
Chúng tôi không hại người nhà… Đi đi…
Dứt câu mười một cái bóng lần lượt tan biến trong không gian tĩnh mịch. Luồng sáng xanh ma mị lập tức biến mất. Chiếc đèn pha công suất lớn ở đầu cầu chớp tắt liên hồi rồi bật sáng trở lại với ánh sáng trắng bếch, quét rọi thẳng vào bãi máu loang lổ cùng đống thịt bầy nhầy khắp nhịp cầu. Vinh nằm dán mình xuống sàn, mồ hôi hột hòa lẫn máu tươi chảy dài trên mặt. Lời dặn của lão Khoán trước lúc anh lên đường bỗng rền rĩ vang vọng lại trong tâm trí: “Con đừng nghe bằng tai. Hãy nghe bằng lòng mình. Có những thứ không cần giấy mực, chỉ cần một tiếng là đủ để hiểu nhau cả một đời người… Hãy nhớ lời ta”. Đến lúc này, Vinh mới thực sự ngộ ra. Những linh hồn phu hầm nằm lại dưới lòng sông từ nửa thế kỷ trước chưa bao giờ tan biến. Họ đã hòa xương máu vào sắt thép, dùng oán khí giữ vững cây cầu qua bao dâu bể, và đêm nay, họ đã trỗi dậy để bảo vệ anh, đứa con của người đồng đội cũ năm xưa. Gạt đi sự bàng hoàng và cơn buồn nôn đang dội ngược lên cổ họng, Vinh cắn chặt môi đến bật máu để giữ lại chút tỉnh táo cuối cùng. Anh nhanh tay vơ lấy cuốn sổ mật vụ bết dính máu rơi dưới sàn, vội vã lướt mắt ghi nhớ rồi nhét sâu vào đáy hòm sắt. Không một động tác thừa, Vinh ôm chặt hòm đồ nghề, lầm lũi bò rạp theo làn đường ray chính giữa, nhanh chóng chìm hẳn vào màn sương mù đặc quánh hướng về phía ngoại thành... Vinh không thể về nổi túp lều. Anh không còn đủ tỉnh táo lẫn dũng khí để bước đi trên đôi chân đã run rẩy gãy gập. Anh bò rạp vào một góc tối tăm chật hẹp ngay dưới gầm cầu, nơi chất đống những thanh tà vẹt mục nát và hòm sắt hoen rỉ bỏ hoang từ thời làm cầu. Vinh co rúm người lại giữa khoảng không chật hẹp bốc mùi ẩm mốc, hai tay ôm chặt lấy đầu gối, lưng tựa sát vào vách sắt lạnh ngắt. Toàn thân anh run lên bần bật như gạt đĩa, răng đập vào nhau ken két không ngừng. Vết máu khô của tên lính Nhật bị đứt đầu dính bết trên lưng áo phu đường sắt bốc lên thứ mùi tạng phủ nồng nặc, xộc thẳng vào mũi khiến anh liên tục nôn khan ra thứ dịch dạ dày chua chát, đắng nghét. Đôi mắt anh trợn ngược, hằn lên những tia máu đỏ sòng sọc, chập chùng nhìn vào bóng tối. Cái rét cắt da cắt thịt của đêm tháng 2 không làm anh lạnh bằng viễn cảnh đã xảy ra lúc nãy. Cứ hễ kiệt sức, anh lại ngủ thiếp đi và Vinh lại sập vào ác mộng. Trong cơn mộng mị chợt đến, anh lại thấy màng nhĩ mình nổ tung CRẮC, máu tươi tạt xối xả vào mặt. Anh thấy cái đầu đứa trẻ phu hầm quay ngược 180 độ, đôi mắt đỏ lòm kề sát tận mũi anh, cất tiếng rít xì... xì... tàn khốc.
A... AAAAA!
Vinh giật phắt người tỉnh dậy, lồng ngực phập phồng như người ngạt nước. Anh thở dốc cuồng loạn, mồ hôi hột chảy ròng ròng ướt đẫm cả áo dù trời lạnh giá. Anh quờ quạng hai tay xung quanh trong cơn hoảng loạn, lưng hếch chặt vào vách sắt, mắt trố ra nhìn gầm cầu tối om. Không có ai cả. Chỉ có tiếng gió đêm rên xiết qua các khe giàn thép và tiếng sóng sông Hồng vỗ cộp... cộp... đục ngầu. Nhưng cứ hễ mi mắt vừa sập xuống vì kiệt sức, thứ hình ảnh quái dị đó lại lao đến xé rách tâm trí anh. Ác mộng nối tiếp ác mộng, vặn vẹo tâm trí Vinh khiến anh không dám ngủ, không dám khép mắt, chỉ biết ngồi co quắp trong góc tối, ôm lấy đầu gối trân trối nhìn vào hư vô cho đến tận khi bình minh lên...
Sáng hôm sau, khi màn sương mù đặc quánh trên sông Hồng còn chưa kịp tan, cầu Long Biên rơi vào một cơn chấn động kinh hoàng. Toán lính Nhật đi ca sớm đến thay ca tại nhịp số ba đã phải chứng kiến một cảnh tượng tưởng chừng chỉ có ở cõi địa ngục. Chiếc đèn pha công suất lớn rọi vào những thanh dầm thép, làm lộ ra một bãi thịt bầy nhầy, đầm đìa máu tươi đã bắt đầu đông quánh lại dưới cái rét tháng 2. Hơn chục tên lính tuần tra đêm qua không còn một thân thể nào nguyên vẹn: kẻ thì bị lực ép nén chặt đến gãy vụn từng lóng xương, tạng phủ phòi ra ngoài; kẻ thì bị đinh tán rỉ sét đâm xuyên qua vòm họng găm chặt lên khung cầu như những mảng thịt phơi khô. Tiếng còi báo động từ bốt gác rống lên liên hồi, xé tan sự tĩnh lặng của buổi sớm mai. Xe cam nhông quân sự và hiến binh Nhật lũ lượt kéo đến, phong tỏa toàn bộ cây cầu. Tên chỉ huy đồn gác mặt cắt không còn một hạt máu, tay run rẩy rút súng chỉ trỏ, gào lên điên cuồng yêu cầu điều tra. Chúng lôi cả bác sĩ quân y và sĩ quan pháp y đến kiểm tra hiện trường, nhưng càng khám nghiệm, chúng càng hoang mang tột độ. Không có bất kỳ dấu vết nào của chất nổ, không có dấu chân của một lực lượng phục kích lớn, và tàn khốc hơn cả là cơ chế gây ra những cái chết này: toàn bộ mạch máu của nạn nhân bị vỡ tung từ bên trong, lồng ngực bị ép phẳng như chịu một lực nén hàng chục khí áp. Khắp các khu phố nội thành và vùng ven bãi sông, tin đồn lan ra như vết dầu loang. Người dân An Nam thì thầm tai nhau về oan hồn trỗi dậy đòi nợ máu. Lính Nhật dù tàn bạo nhưng vốn tin vào những chuyện ma quái tâm linh, từ hôm đó trở đi, mỗi lần phải nhận ca tuần đêm trên cầu Long Biên, bọn chúng đều run bẩy hẩy. Chúng không còn dám đi lẻ, chốt gác nào cũng phải thắp hương khấn vái theo phong tục bản địa, và tuyệt đối không tên nào dám đứng gần các góc giàn thép chữ V khi đêm xuống. Bên dưới gầm cầu, Vinh vẫn nằm co quắp trong hốc tối chật hẹp, toàn thân run lên bần bật. Anh hoàn toàn không hay biết trời đã sáng hay vụ tàn sát đã làm chấn động cả Hà Nội. Bàn tay anh siết chặt lấy hòm sắt, cơ thể liên tục giật nẩy lên mỗi khi tiếng còi xe hiến binh rống lên điên cuồng trên mặt cầu. Mùi tử khí tanh nồng và cái lạnh âm ti đêm qua vẫn bám chặt lấy từng thớ thịt, đẩy Vinh vào một cơn sốt mê man. Anh không thể gạt bỏ nỗi sợ, cũng chẳng thể nghĩ đến bất kỳ điều gì dũng cảm. Anh chỉ biết nằm đó, thở dốc cuồng loạn, hai tay bịt chặt lấy tai để trốn chạy tiếng xì... xì... tàn khốc vẫn đang rền rĩ vang vọng trong não bộ. Phải đến khi cơn run rẩy dần dịu đi vì kiệt sức, Vinh mới đưa bàn tay đầm đìa mồ hôi mở chiếc hòm sắt rỉ. Bắt lấy cuốn sổ mật vụ bết dính vết máu đông quánh của kẻ thù, anh miết nhẹ ngón tay lên từng trang giấy với đôi mắt dại dệch. Trận trừng phạt thảm khốc đêm qua đã xé rách một lỗ hổng tử huyệt trong hệ thống phòng thủ của phát xít Nhật tại nhịp số 3, một khoảng trống xương máu để lực lượng cách mạng đưa vũ khí và thông tin thâm nhập vào nội đô. Bên ngoài, tiếng còi xe hiến binh Nhật vẫn rống lên từng hồi điên cuồng từ phía chốt gác đầu cầu. Vinh co rúm người lại, ôm chặt chiếc hòm sắt vào lòng, trân trối nhìn ra bóng tối ngoài hốc đá. Dưới lòng sông, tiếng nước chảy xiết hòa cùng tiếng sắt thép co giãn dưới gió sớm nghe cộc... cộc... đều đặn, như nhịp đập tim phổi của một con quái thú bằng thép vừa tỉnh giấc, sẵn sàng cùng nhân dân vùng lên chôn vùi quân xâm lược.
Anh không dám bò ra cho đến khi trời sập tối lần nữa. Nhưng Vinh không về nhà. Lệnh trên đã dặn: sau một nhiệm vụ để lộ dấu vết, phải cắt đứt liên lạc, ẩn mình nơi khác ít nhất vài tuần để tránh dẫn mật thám về tận cửa. Anh lết theo bãi bồi trong đêm, len lỏi qua từng lùm cây dại, cuối cùng tá túc tạm trong một cái miếu hoang bỏ không ở rìa làng Ngọc Thụy, nơi một cơ sở cách mạng bí mật vẫn thường tiếp tế cho cán bộ nằm vùng. Suốt nhiều tuần liền, Vinh sống chui lủi, ăn bờ ngủ bụi, đêm nào cũng giật mình tỉnh giấc giữa cơn ác mộng, tay vẫn còn cảm giác ram ráp của máu khô bết trên các ngón. Anh không dám nhắm mắt quá lâu, không dám kể cho bất cứ ai, kể cả những đồng chí cùng cơ sở, về thứ mình đã chứng kiến đêm ấy trên nhịp cầu số 3. Nỗi sợ hãi cứ thế âm ỉ trong lòng anh như một vết thương không có cách nào băng bó, chỉ có thể mang theo, đi hết ngày này qua ngày khác. Mùa hè năm ấy, cái đói không buông tha Hà Nội, nhưng một luồng gió khác đã bắt đầu thổi từ trong lòng người dân, một luồng gió không mang mùi tử khí, mà mang theo tiếng trống, tiếng hô vang dội từ những đoàn người áo nâu, áo vá kéo về nội thành. Tin quân Nhật đầu hàng đồng minh lan đi như một cơn địa chấn, và trong cái khoảng trống quyền lực ngắn ngủi ấy, lực lượng tự vệ chiến đấu gấp rút chuẩn bị vũ khí cho một cuộc khởi nghĩa đang cận kề. Chiều ngày 18 tháng 8, Vinh nhận nhiệm vụ mới, không còn đi một mình như đêm tháng 2 định mệnh, mà cùng bốn đồng chí khác áp tải một chuyến xe than chở đầy vũ khí lấy trộm được từ xưởng Aviat ở Gia Lâm, súng trường, lựu đạn tự tạo, được vùi dưới những bao than củi đen sì, phủ lên trên là rơm rạ. Đi cùng anh có Nam, một chiến sĩ tự vệ mới mười chín tuổi, tay vẫn còn run mỗi khi cầm súng, và ba người khác lớn tuổi hơn, dày dạn trận mạc. Chiếc xe lăn bánh trong bóng tối, nhắm hướng cầu Long Biên để vào nội thành, nơi đoàn khởi nghĩa đang chờ vũ khí để đồng loạt nổi dậy vào sáng hôm sau. Đến nhịp cầu số 3, một toán hiến binh Nhật đông hơn thường lệ, gần chục tên, chặn xe lại. Chúng đã đánh hơi được sự bất ổn trong thành phố mấy ngày qua, nên lùng sục gắt gao hơn bao giờ hết. Tên chỉ huy toán, một viên thiếu úy trẻ mặt lạnh như tiền, ra lệnh dỡ hết than xuống kiểm tra.
Bọn kia, chúng mày là ai, đang chở cái gì? Cởi ra cho tao xem!
Trên xe, năm người nín thở, tay ai nấy đã đặt sẵn lên báng súng giấu dưới lớp than, chuẩn bị cho một trận đánh giáp lá cà không lối thoát nếu bị lộ. Chính vào khoảnh khắc lưỡi lê đầu tiên chọc phập vào bao than, mặt sàn thép dưới chân cả toán lính Nhật bỗng rung lên khe khẽ. Không chỉ Vinh, mà tất cả, từ tên thiếu úy, đám lính hiến binh, cho đến bốn đồng chí trên xe và cả vài người dân hiếm hoi đang vội vã băng qua cầu giữa giờ giới nghiêm, đều cảm nhận được cùng một luồng lạnh buốt cắt ngang không khí oi nồng của đêm tháng 8. Lần này, không có ai một mình chứng kiến trong câm lặng nữa. Đèn pha trên chốt gác đồng loạt chớp tắt, ánh sáng chuyển sang một màu xanh xám kỳ dị phủ trùm lên cả nhịp cầu, đủ rõ để mọi cặp mắt đang có mặt đêm đó nhìn thấy cùng một cảnh tượng. Từ các khe đinh tán dọc giàn thép chữ V, hàng chục bàn tay đen sạm bùn đất đồng loạt trồi lên, bấu chặt lấy thành cầu. Mười hai hình hài biến dạng hiện ra rõ mồn một trong thứ ánh sáng ma quái ấy, không còn là những cái bóng mờ ảo như trước, mà là những thân thể có thịt có da, ứa ra thứ dịch đen quánh từ những vết nứt sâu hoắm trên cơ thể, hệt như khi vừa được kéo lên từ đáy bùn sông Hồng. Một bóng ảnh đứng chính giữa, cao lớn hơn hẳn dáng vẻ của một thiếu niên mười tám, đôi mắt đỏ rực như hai hòn than cháy, quét một lượt qua từng gương mặt đang chết trân trên cầu. Người dân qua đường đầu tiên hét lên, ngã lăn ra đất rồi bò lết chạy trốn. Tiếng hét ấy như một mồi lửa châm vào đám lính Nhật vốn đã căng thẳng tột độ suốt nhiều ngày. Chúng giương súng bắn loạn xạ vào khoảng không, đạn cày xới lung tung trên mặt thép nhưng không trúng lấy một cái bóng nào. Đáp lại, mười hai oan hồn không còn khoan nhượng như những lần trước, chúng lao vào giữa đám lính với một tốc độ không mắt thường nào theo kịp, xé toạc quân phục, vặn gãy tay chân, ép chặt thân thể từng tên lính vào các góc giàn thép cho đến khi xương cốt răng rắc gãy vụn. Máu văng tung tóe lên cả thành xe, lên gương mặt tái dại của Nam và những đồng chí đang đứng chết lặng, không kịp phản ứng. Chỉ trong chưa đầy một phút, toàn bộ toán hiến binh nằm bất động trên sàn cầu, ngoại trừ tên thiếu úy chỉ huy, hắn vứt súng, quỳ sụp xuống, hai tay ôm đầu gào thét bằng tiếng Nhật, rồi cắm đầu chạy về phía đầu cầu bên kia, không ngoái lại lấy một lần. Nhưng không để cho hắn kịp chạy, chỉ thấy cái bóng ảnh nghiêng đầu một cái, ngay lập tức toàn thân tên chỉ huy đứng phắt lại, tay từ từ đưa lên đầu mà vặn rắc một cái. Chỉ nghe thấy tiếng rắc, đầu của tên chỉ huy bị vặn ngược 180 độ, mắt trợn trừng, toàn thân đổ gục xuống. Trên xe, không ai dám nhúc nhích, vì ai cũng đã mặt tái xanh tái mét, tay run lên bần bật. Nam là người đầu tiên phá vỡ sự câm lặng, giọng cậu vỡ ra thành từng tiếng nấc, hai tay vẫn bấu chặt lấy thành xe đến trắng bệch.
Anh… anh Vinh, cái… cái gì vừa xảy ra vậy? Em… em không nằm mơ đấy chứ? Bọn nó… bọn nó vừa mới còn đứng đó mà…
Một đồng chí lớn tuổi hơn, người vẫn được xem là gan lì nhất đội, giọng cũng run bần bật không kém.
Tao đi lính vệ quốc mấy năm nay, chưa từng thấy cái gì như thế này. Không phải mình bắn, không phải mình đánh… mà chúng nó chết sạch trước mắt mình. Cái quái gì vậy mày ơi...
Vinh nuốt khan, cổ họng khô khốc đến mức phải mất vài giây mới bật ra được tiếng nói. Anh liếc nhìn lên giàn thép chữ V, nơi bóng dáng những oan hồn đã tan biến trở lại vào bóng tối, chỉ còn vệt máu loang trên sàn cầu là bằng chứng duy nhất còn sót lại.
Tao... tao cũng không biết. Đi, đi nhanh lên, NHANH LÊN!!!! - Vinh hét lớn
Đoàn người vừa tỉnh lại sau sự sợ hãi mà tiếp tục nhiệm vụ. Cả đoàn xe nổ máy, len qua bãi xác nhầy nhụa mà không một ai dám nhìn thẳng vào đó lần thứ hai. Vinh vội vã hò đồng đội lùa xe qua khoảng trống vừa mở ra, phóng thẳng vào nội thành trước khi có toán tiếp viện nào kịp kéo đến. Đến nơi cất giấu vũ khí an toàn, Nam vẫn chưa hết bàng hoàng, ngồi thụp xuống đất, hai tay ôm đầu.
Em sẽ không kể cho ai nghe đâu, chẳng ai tin nổi cả. Nhưng mà… lỡ họ hỏi vì sao qua trạm dễ vậy thì mình nói sao anh?
Vinh vỗ nhẹ vai cậu, giọng vẫn còn khàn đặc
Cứ nói là toán gác đổi ca, sơ hở nên mình lách qua được. Chuyện kia… để bụng thôi.
Nói ra chưa chắc ai tin, mà tin rồi thì càng thêm hoang mang. Ngay đêm đó, người dân sống quanh khu vực đầu cầu, những kẻ chỉ tình cờ chứng kiến từ xa, chẳng liên quan gì đến đoàn xe, đã không thể im lặng trước một cảnh tượng kinh hoàng đến vậy. Họ kể lại cho người nhà trong cơn hoảng loạn chưa nguôi, ban đầu chỉ là những lời thì thầm run rẩy sau cánh cửa khép kín. Sáng hôm sau, câu chuyện đã lan đến hàng xóm. Trưa hôm sau nữa, nó đã tới được mấy bà hàng nước đầu chợ Đồng Xuân, được thêm mắm dặm muối qua mỗi lần kể lại, có người bảo thấy quỷ đầu trâu, có người thề rằng nhìn thấy cả một đội quân âm binh từ dưới sông trồi lên. Chỉ trong vòng ba ngày, từ một câu chuyện của vài người chứng kiến trực tiếp, nó đã trở thành lời đồn thổi khắp các con phố quanh bến Long Biên, rồi lan sang cả những khu chợ xa hơn, cho đến khi không một người dân Hà Nội nào chưa từng nghe qua, dù chỉ là một mảnh vụn của câu chuyện. Trong doanh trại quân Nhật, tin đồn về linh hồn báo oán khiến tinh thần vốn đã rệu rã từ tin đầu hàng Đồng minh nay càng thêm tan tác, không ít tên lính đào ngũ ngay trong đêm, không dám nhận phiên gác qua cầu dù bị đe dọa quân pháp. Còn trong lòng nhân dân, câu chuyện ấy lại mang một sắc thái khác hẳn: nó trở thành một lời sấm truyền rằng oan hồn của tổ tiên vẫn đang đứng về phía những người con đất Việt, rằng ngày tàn của quân xâm lược đã cận kề. Tin tức về sự hỗn loạn chưa từng có trong hàng ngũ địch cũng nhanh chóng lọt đến tai đồng chí Nguyễn Quyết, người đang cùng Ủy ban khởi nghĩa Hà Nội gấp rút hoàn tất những khâu chuẩn bị cuối cùng cho cuộc Tổng khởi nghĩa. Nhận thấy tinh thần quân Nhật đang rệu rã đến mức chưa từng có, đồng chí quyết không để lỡ thời cơ hiếm có ấy, lập tức truyền lệnh cho các đội tự vệ chiến đấu và lực lượng quần chúng đẩy nhanh kế hoạch, xốc thẳng vào các vị trí trọng yếu ngay trong đêm thay vì chờ đến sáng như dự định ban đầu. Đêm 18 rạng 19 tháng 8, khi đoàn tự vệ chiến đấu áp sát trại lính bảo an ở đầu cầu phía Gia Lâm để mở màn cuộc khởi nghĩa, không một viên đạn nào phải nổ. Đám lính canh, đã nghe đủ thứ chuyện rùng rợn truyền tai suốt cả ngày hôm trước, buông súng đầu hàng ngay khi thấy bóng người xuất hiện trong màn sương, chúng sợ đó không phải là người. Vinh đứng giữa nhịp cầu, giữa tiếng reo hò của đồng đội, ngước nhìn lên những thanh dầm hoen gỉ nơi máu vẫn còn chưa kịp khô hẳn từ đêm hôm trước. Không có bóng ma nào hiện ra đêm đó. Chỉ có tiếng nước sông Hồng chảy êm đềm, như một hơi thở dài sau bao năm bị bóp nghẹt, và một sự tĩnh lặng nặng nề, như thể chính cây cầu cũng đang nín thở chờ đợi bình minh của một đất nước tự do.
Sáng ngày 2 tháng 9, cả Hà Nội ngợp trong biển cờ đỏ sao vàng. Dòng người từ khắp các ngả kéo về quảng trường Ba Đình để dự lễ Tuyên ngôn Độc lập, và một phần không nhỏ trong dòng người ấy phải đi qua cây cầu thép bắc qua sông Hồng. Lão Khoán, tóc đã bạc trắng, đứng lẫn trong đám đông, tay run run vịn vào thành lan can nơi bốn mươi ba năm trước ông từng đứng khóc một mình giữa đêm khánh thành. Ông ngước nhìn bầu trời thu trong vắt, rồi cúi đầu, môi mấp máy một lời khấn không thành tiếng, gửi tới những người đã nằm lại dưới móng trụ số 3. Giữa dòng người chen chúc, Vinh tìm được cha giữa lúc đoàn biểu tình tạm dừng nghỉ chân trên cầu. Hai cha con đứng nép vào một góc lan can, mặc kệ tiếng hò reo cuộn trào xung quanh. Lần đầu tiên kể từ đêm tháng 2, Vinh mở lời, giọng anh khẽ đến mức gần như chìm hẳn vào tiếng người.
Cha… con đã thấy họ. Đêm hôm ấy, và cả đêm chuyến xe than nữa. Con thấy rõ, ai cũng thấy, không phải một mình con thấy hoa mắt nữa cha ạ.
Lão Khoán không ngạc nhiên, chỉ im lặng nghe, đôi mắt đục mờ dõi ra xa dòng sông. Vinh kể lại, chắp vá, đứt quãng, có đoạn giọng anh lạc hẳn đi vì chính anh cũng không tin nổi những gì miệng mình vừa thốt ra. Kể xong, anh vẫn còn run, hai bàn tay siết chặt vào nhau.
Con… con vẫn sợ, cha ạ. Dù họ không hại mình, con vẫn sợ mỗi khi nhắm mắt lại.
Lão Khoán đặt bàn tay nhăn nheo, đầy vết chai của bốn mươi ba năm gắn với cây cầu lên vai con trai, giọng ông trầm và chậm.
Sợ là phải, con ạ. Người thường mà không sợ mới là lạ. Cha sống với họ ngần ấy năm mà vẫn còn sợ, huống hồ gì con. Chỉ cần nhớ, họ không đòi mạng người nhà mình, thế là đủ để mà sống tiếp.
Vinh cúi đầu, không đáp lại được nữa, chỉ đứng lặng bên cha giữa biển người đang hân hoan reo hò, lòng anh vẫn còn nguyên một khoảng lạnh không tên. Không ai trong đám đông hôm ấy biết rằng, ngay bên dưới bước chân hân hoan của họ, mười hai oan hồn vẫn lặng lẽ đứng trên giàn thép, dõi theo đoàn người con đất Việt tự do đi qua, đôi mắt đỏ lòm của họ, lần đầu tiên sau bao năm, không còn phảng phất hơi hướng của thù hận. Nhưng hòa bình ấy ngắn ngủi. Cuối năm 1946, tiếng súng lại nổ ở Hà Nội. Giặc Pháp trở lại, mang theo xe tăng, đại bác, quyết tâm bóp nát nền độc lập non trẻ vừa giành được bằng máu. Cầu Long Biên một lần nữa trở thành yết hầu chiến lược, nơi quân Pháp dồn hỏa lực nhằm cắt đứt đường lui của lực lượng ta khỏi nội thành. Đêm tháng 2 năm 1947, sau sáu mươi ngày đêm giam chân địch trong lòng Hà Nội, Trung đoàn Thủ đô nhận lệnh rút qua sông Hồng để bảo toàn lực lượng, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến trường kỳ. Đêm ấy trời lạnh cắt da, pháo sáng quân Pháp quét ngang dọc trên bầu trời, biến bãi bồi sông Hồng thành một vùng sáng trắng lạnh lẽo, không một bóng cỏ nào có thể ẩn nấp. Vinh, khi ấy đã là một cán bộ dẫn đường, đi cùng đoàn quân áp sát mép nước. Anh nhìn lên nhịp cầu sừng sững phía trên đầu, nơi từng khiến anh gào thét trong ác mộng suốt hai năm trời, và lần đầu tiên, anh thì thầm một lời cầu xin thay vì một lời sợ hãi.
Các chú ơi… che cho anh em con qua sông.
Không ai giải thích được điều đã xảy ra sau đó. Những người lính kể lại rằng đêm ấy, giữa lúc đèn pha quân Pháp đảo liên hồi, một lớp sương đặc quánh bất chợt dâng lên từ lòng sông, nuốt trọn cả luồng sáng, khiến ống ngắm và đèn rọi của địch trở nên vô dụng. Có người thề rằng dưới làn sương ấy, họ nghe thấy tiếng gõ đều đều vọng lên từ đáy nước, như một nhịp trống hành quân câm lặng dẫn đường cho từng bước chân. Cả trung đoàn vượt sông trong đêm đó mà không mất thêm một người nào dưới hỏa lực địch. Sáng hôm sau, khi sương tan, quân Pháp trên cầu chỉ còn biết đứng ngẩn ra nhìn dòng sông trống không, không hiểu vì sao cả một đội quân có thể tan biến ngay trước mũi súng của họ. Bảy năm kháng chiến trường kỳ trôi qua như một cơn lũ. Long Biên vẫn đứng đó, hứng chịu bao trận càn, bao đợt oanh tạc nhỏ lẻ, nhưng chưa một lần gãy nhịp. Lão Khoán không còn đủ sức để ra cầu mỗi đêm như xưa nữa. Ông nằm trên chiếc chõng tre trong túp lều cũ, đôi mắt mờ đục hướng ra phía dòng sông mà ông đã gắn bó cả một đời người, cho đến một buổi sáng mùa thu năm 1953, ông trút hơi thở cuối cùng, tay vẫn nắm chặt cuốn sổ kỹ thuật sờn cũ, nơi ghi tên của Ái và mười một người anh em năm nào. Vinh chôn cha ngay trên bãi bồi, dưới bóng nhịp cầu, theo đúng di nguyện cuối cùng của ông.
Để cha được ở gần chúng nó.
Đêm hạ huyệt, không một cơn gió nào nổi lên, nhưng ngọn nến trên mộ lão Khoán cứ chao đi chao lại như có bàn tay ai đó khe khẽ vuốt qua. Vinh quỳ bên mộ cha đến tận nửa đêm, và trong tiếng sóng vỗ vào chân trụ đá, anh nghe thấy, chỉ một lần duy nhất, một tiếng "cộc" vang lên trầm và dài, không giống bất cứ nhịp gõ giận dữ nào anh từng nghe trước đây, nó giống một lời tiễn biệt. Sáng ngày 10 tháng 10 năm 1954, Hà Nội vỡ òa trong rừng cờ hoa đón đoàn quân chiến thắng tiến về tiếp quản Thủ đô. Vinh, trong bộ quân phục đã sờn vai vì bao năm trận mạc, đứng nghiêm trên nhịp cầu Long Biên, nhìn đoàn quân rầm rập diễu qua giữa tiếng hò reo của hàng vạn người dân đứng chật hai bên đường. Anh đưa mắt nhìn xuống dòng sông Hồng đỏ nặng phù sa, nơi cha anh, nơi Ái, nơi mười một người anh em phu hầm đã hóa thân vào từng thớ thép, và trong lòng anh dâng lên một cảm giác vừa tự hào, vừa nặng trĩu, niềm tự hào của một dân tộc đã giành lại được đất mẹ, và món nợ máu mà những oan hồn dưới chân cầu đã âm thầm gánh vác suốt nửa thế kỷ. Nhưng ngay giữa niềm hân hoan ấy, sống lưng Vinh bỗng lạnh buốt một cách quen thuộc. Anh liếc mắt lên giàn thép phía trên đầu. Trong làn khói pháo và cờ hoa phấp phới, một cái bóng ảnh nhỏ bé hiện ra thấp thoáng trên nách dầm chữ V, đôi mắt đỏ lòm nhìn thẳng xuống anh, không giận dữ, không đe dọa, nhưng cũng không hề bình yên. Ánh mắt ấy mang một nỗi lo âu xa xăm, như thể đang nhìn về một điều gì đó còn ở rất xa, phía cuối chân trời. Tiếng gõ cộc… cộc… lại vang lên từ đáy trụ số 3, chậm rãi nhưng kiên định, như một trái tim thép chưa bao giờ ngừng đập, như một lời cảnh báo câm lặng: cuộc chiến vì cây cầu này chưa hề kết thúc. Dưới lòng sông, oan khí tích tụ suốt hơn nửa thế kỷ vẫn đang cuộn chảy, chờ đợi một kẻ thù mới, một kẻ thù không đến từ những đoàn quân bộ hành trên mặt đất, mà sẽ đến từ bầu trời, mang theo thứ lửa dữ dội hơn bất cứ điều gì cây cầu từng nếm trải.