Mọi người, chuyện em kể dưới đây đều là những việc mẹ em và dì ruột em từng gặp trực tiếp. Không phải một câu chuyện dài liền mạch mà là mấy chuyện xảy ra đúng vào khoảng thời gian ông ngoại em bệnh nặng rồi qua đời. Hồi đó em đang học khoảng lớp 3. Một hôm dì gọi điện cho mẹ, vừa nói vừa khóc rằng ông ngoại đã bị ung thư giai đoạn cuối. Trước đó khoảng một năm, ông từng đi khám sức khỏe ở bệnh viện và bác sĩ phát hiện một đốm trắng nhỏ ở một bên phổi. Khi ấy cả nhà chưa ai nghĩ bệnh sẽ nặng đến vậy, ông vẫn sinh hoạt bình thường. Hồi trẻ ông hút thuốc khá nhiều, lại thích ăn đồ nướng. Không ngờ chỉ hơn một năm sau, bệnh chuyển rất nhanh, hai lá phổi gần như không còn hoạt động tốt, ông phải thở oxy thường xuyên. Ăn uống cũng vô cùng khó khăn vì trong miệng và cổ có nhiều vết loét, ngay cả uống nước hay ăn cháo loãng ông cũng đau rát đến mức cứ nhăn mặt rồi nói: “Thôi, thôi, không ăn nữa, đau quá.”
Thời gian đầu ông vẫn được gia đình chăm sóc tại căn nhà cũ ở quận Bình Tân, TP.HCM. Có một hôm đang nằm, tự nhiên ông hoảng loạn la lớn, cứ chỉ về phía nhà vệ sinh với chân cầu thang rồi nói: “Người đâu mà đứng đầy nhà vậy? Có bốn, năm người đang nhìn tao kìa.” Người trong nhà nhìn quanh chẳng thấy ai, nhưng ông thì sợ thật sự, cứ bảo họ đứng im ở đó nhìn mình. Mẹ em lúc ấy mới tháo chiếc mặt Phật nhỏ đang đeo trên cổ, mang tới chỗ ông chỉ rồi đưa ra phía trước. Một lúc sau ông mới dần bình tĩnh lại, thở chậm hơn rồi bảo: “Đi rồi… họ đi hết rồi.” Mẹ cũng không nhớ chính xác mặt Phật đó là của vị nào, chỉ nhớ sau hôm ấy ông không còn la lên vì nhìn thấy người lạ trong nhà nữa.
Sau đó bệnh nặng hơn nên gia đình phải đưa ông vào điều trị tại một bệnh viện ở TP.HCM. Điều khiến mẹ em nhớ nhất là trước ngày ông mất đúng một hôm, ông bỗng tỉnh táo và khỏe khoắn lạ thường. Ông ngồi nói chuyện với mẹ rất rõ ràng, sắc mặt cũng sáng hơn, nhìn chẳng giống người đang bệnh nặng chút nào. Mẹ còn mừng thầm, nghĩ chắc ông bắt đầu khá lên. Chiều tối hôm đó mẹ bắt xe buýt từ bệnh viện về nhà ở Thủ Đức. Suốt quãng đường, mẹ cứ ngửi thấy một mùi rất quen, chính là mùi hơi thở của ông trong những ngày cuối bệnh nặng. Ban đầu mẹ nghĩ chắc vì ngồi bên ông lâu nên mùi còn ám trong mũi. Về đến nhà mẹ tắm rửa, rửa mặt, thậm chí rửa cả mũi nhưng mùi ấy vẫn còn. Nó cứ thoảng lên từng lúc suốt cả đêm, đến mức mẹ bắt đầu thấy bất an.
Sáng hôm sau mẹ vẫn dậy làm việc nhà như bình thường. Đến gần trưa, điện thoại reo. Dì gọi tới chỉ nói một câu: “Ông đi rồi.” Mẹ nghe xong khóc không thành tiếng. Lúc đó bà mới hiểu cuộc nói chuyện hôm qua chính là lần cuối cùng mình được nói chuyện với bố. Điều lạ là từ sau khi nhận được tin ông mất, cái mùi hơi thở đã theo mẹ từ bệnh viện về tận nhà hôm trước cũng không còn xuất hiện nữa.
Trong thời gian làm tang lễ, ngày nào bố mẹ cũng đón em và anh chị sau giờ học rồi chạy từ Thủ Đức sang Bình Tân để phụ gia đình lo việc cho ông. Chuyện kéo dài khoảng một tuần. Sau khi tang lễ kết thúc được một thời gian, dì em mới vào căn phòng ông từng nằm để dọn dẹp. Căn phòng đóng kín, cửa sổ kính đều được khóa chặt nên gần như không có gió lọt vào. Dì lau bàn, quét sàn, thay lại chăn gối rồi quay sang lau chiếc tủ quần áo đặt ở cuối giường. Trước lúc quay lưng đi, dì còn nhớ rất rõ tấm ga giường đã được vuốt phẳng, hoàn toàn không có gì trên đó.
Nhưng chỉ một lúc sau, khi quay lại nhìn về phía giường, dì bỗng thấy giữa tấm ga có một đống bột màu xám nằm gọn thành một ụ nhỏ. Không hề vương vãi xung quanh, nhìn giống như có ai đó vừa nhẹ nhàng đổ xuống đúng một chỗ.
Dì còn đang không hiểu đó là thứ gì thì chợt nhìn lên nóc tủ.
Trên đó có hũ đựng tro cốt của ông.
Nắp hũ đang mở.
Dì bước tới lấy xuống kiểm tra thì bên trong gần như không còn tro. Lúc ấy dì mới tái mặt, vì phần bột màu xám đang nằm trên giường chính là tro cốt của ông. Nhưng điều không ai giải thích được là làm sao tro từ một cái hũ đặt trên nóc tủ lại có thể xuống nằm gọn giữa giường. Cửa phòng vẫn đóng, cửa sổ khóa kín, không có quạt mở, lúc dọn dì cũng không hề đụng vào cái hũ. Nếu hũ bị nghiêng hay đổ thì tro phải rơi xuống cạnh tủ hoặc vương khắp sàn, chứ không thể tự nhiên xuất hiện ngay giữa chỗ ông từng nằm.
Dì lúc đó cũng không dám gọi ai vào ngay. Dì chỉ đứng nhìn một lúc, trong lòng vừa sợ vừa buồn, rồi lặng lẽ gom toàn bộ tro lại, cho vào hũ như cũ và đậy nắp thật kỹ. Trước khi ra khỏi phòng, dì còn thắp cho ông một nén nhang rồi nói nhỏ: “Nếu ba còn nhớ nhà thì cứ yên tâm đi. Con cháu vẫn ổn hết.”
Từ hôm đó trở đi, trong căn phòng không xảy ra thêm chuyện gì lạ nữa.
Đến giờ mẹ và dì em vẫn không biết tất cả những chuyện ấy là do đâu. Có thể chỉ là một sự trùng hợp mà gia đình chưa tìm ra nguyên nhân. Nhưng mẹ em vẫn nhớ rất rõ mùi hơi thở của ông đã theo mình suốt chuyến xe từ bệnh viện về Thủ Đức trước ngày ông mất. Còn dì thì đến giờ vẫn khẳng định, hôm ấy trước khi quay sang lau tủ, trên chiếc giường của ông hoàn toàn không có một hạt tro nào cả.